XÂY DỰNG TIÊU CHÍ HỆ THỐNG HÓA
CÁC CHẤT LIỆU MÚA DÂN GIAN VÙNG NAM BỘ
ThS. NGƯT. Đoàn Phúc Linh Tâm
Di sản văn hóa của mỗi dân tộc là kết tinh những giá trị tinh túy về cả vật chất và tinh thần của nhiều thế hệ nên cần phải được kế thừa và phát huy, nhất là trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay. Phát huy không chỉ là cách bảo tồn tốt nhất mà nó còn giúp cho di sản văn hóa thêm phong phú hơn, đa dạng hơn và giàu có hơn. Như vậy, việc làm cho di sản văn hóa phi vật thể “Nghệ thuật Múa dân gian Việt Nam” tiếp tục được nuôi dưỡng, tỏa sáng, mang cả ý nghĩa khoa học và thực tiễn phù hợp với chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.*
Nghệ thuật múa dân gian truyền thống của các dân tộc vùng Nam Bộ đã từng được xem như một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống của cộng đồng. Tuy nhiên trước tác động của nền kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa, nghệ thuật múa dân gian vùng Nam Bộ cũng không thể tránh khỏi những chi phối, hệ quả mang tính hai mặt, trong đó có cả những nguy cơ mai một.
Nếu trước đây, nghệ thuật múa là một hoạt động không thể thiếu trong các nghi lễ, lễ hội của cộng đồng thì hiện nay nhiều lễ hội, sinh hoạt không còn được duy trì dẫn đến nghệ thuật múa không còn cơ hội được thực hành. Bên cạnh đó, ở một số nơi do điều kiện kinh tế khó khăn dẫn đến những hạn chế trong việc giữ gìn vốn văn hóa từ cộng đồng, đặc biệt là các điệu múa dân gian truyền thống.
Ngoài ra, ảnh hưởng của quá trình mở cửa hội nhập và quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ dẫn đến việc không phân định được đâu là yếu tố nguyên bản, đâu là kết quả tiếp biến văn hóa. Đó là nguyên nhân làm cho các điệu múa dân gian truyền thống đứng trước nguy cơ bị thất truyền hoặc bị biến đổi lai căng với các điệu múa hiện đại, hay pha tạp các điệu múa của các dân tộc khác. Nếu không kịp thời được bảo tồn, lưu giữ thì rất có thể nhiều điệu múa truyền thống sẽ không còn giữ được nét nguyên bản và có thể sẽ bị mất đi vĩnh viễn, không còn khả năng phục hồi.
Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hóa và sự giao lưu văn hóa mạnh mẽ giữa các quốc gia, sự phát triển của các phương tiện truyền thông mới cũng làm ảnh hưởng đến thị hiếu thẩm mỹ của công chúng, dẫn đến tâm lý quay lưng lại với những giá trị truyền thống, trong đó có nghệ thuật múa dân gian. Có thể thấy rằng hiện nay thế hệ trẻ có rất nhiều cơ hội được tiếp xúc với các giá trị văn hóa hiện đại, trong khi đó lại chưa hiểu, quý trọng và có điều kiện để gìn giữ, phát huy vốn di sản của dân tộc, đặc biệt với nghệ thuật múa dân gian truyền thống. Chính vì vậy, công tác bảo tồn nghệ thuật múa dân gian truyền thống càng cần được đẩy mạnh hơn, nhằm nâng cao nhận thức cũng như trách nhiệm cho giới trẻ, để họ cùng chung tay giữ gìn những điệu múa dân gian truyền thống của chính dân tộc mình.
Hiện nay, số nghệ nhân có sự hiểu biết sâu sắc về các điệu múa dân gian truyền thống của cộng đồng ngày càng lớn tuổi, một số nghệ nhân cao tuổi cũng không còn nữa đồng nghĩa với những hiểu biết về những giá trị văn hóa, lịch sử về nghệ thuật múa của họ cũng không còn, dẫn đến hoạt động khôi phục, bảo tồn và tái hiện nhiều điệu múa gặp rất nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, năng lực của đội ngũ cán bộ làm văn hóa còn chưa thực sự đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu về cả số lượng và chất lượng nên trong một số thời điểm, tại một số nơi, việc sưu tầm, bảo tồn và khai thác các điệu múa dân gian truyền thống còn chưa được thực hiện đầy đủ và đúng phương pháp. Trong thực tế cho đến thời điểm này, có rất ít công trình nghiên cứu khoa học đã được thực hiện và công bố về lĩnh vực nghệ thuật múa dân gian truyền thống Nam Bộ, cho thấy công tác bảo tồn nghệ thuật múa dân gian truyền thống chưa thực sự được quan tâm và đầu tư tại vùng Nam Bộ hiện nay.
Ngoài ra, việc khai thác, phát huy giá trị nghệ thuật múa dân gian truyền thống các dân tộc vùng Nam Bộ trong hoạt động du lịch còn nhiều hạn chế, như: Chưa được quản lý chặt chẽ và đồng bộ; chưa có các quy định mang tính chuẩn hóa; chưa có sự kiểm định về chất lượng cũng như tính bản sắc của các tiết mục trình diễn, dễ tác động không tốt đến cảm thụ nghệ thuật của khán giả; hiệu quả kinh tế - xã hội chưa được như mong muốn; công tác giới thiệu, quảng bá còn hạn chế và chưa mang lại hiệu quả... Việc khai thác nghệ thuật múa dân gian một cách tràn lan, thiếu nguyên tắc sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến loại hình nghệ thuật này dẫn đến tình trạng thương mại hóa và biến đổi các điệu múa dân gian, phản ánh không chân thực giá trị của truyền thống, làm sai lệch hình ảnh văn hóa dân tộc.
Những vấn đề đặt ra ở trên chính là nguyên nhân dẫn đến thực trạng đang diễn ra hàng ngày của hoạt động bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa dân gian vùng Nam Bộ. Từ đó rất cần các cấp ngành, địa phương, nhà quản lý, những người làm công tác nghiên cứu văn hóa đưa ra những giải pháp hiệu quả trong việc vừa bảo tồn, vừa phát huy các giá trị nghệ thuật múa dân gian vùng Nam Bộ. Với mục đích này, chúng tôi cho rằng, một trong những việc cần triển khai ngay đó là cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung các hệ thống chất liệu múa của các dân tộc Việt, Chăm, Khơ Me vùng Nam Bộ. Để thực hiện được công việc này, trước hết phải xác định các tiêu chí cần có để có thể điều chỉnh một cách chính xác các hệ thống chất liệu này. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ trình bày một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình xây dựng tiêu chí, hệ thống hóa các chất liệu múa dân gian vùng Nam Bộ.
Đây có thể nói là điều kiện tiên quyết để tạo nên một hệ thống. Khi nói tới hệ thống thì có nghĩa là một hình thái mà trong đó có sự liên kết các bộ phận, chi tiết khác nhau để tạo thành một sản phẩm hoặc trên lý thuyết hoặc trên thực tế. Đối với chất liệu múa thì hệ thống lý thuyết phải có khả năng triển khai một cách có hiệu quả trên thực tế. Có nghĩa là qua đó có thể giảng dạy hoặc truyền đạt các kiến thức cần thiết tới cho người học, người thực hành.
Việc sắp xếp logic để gắn kết các động tác là điều cơ bản cho người biên đạo, huấn luyện và người học có thể nắm vững và vận dụng tốt khi làm các bài tập thực hành hoặc biểu diễn các tác phẩm sân khấu đặc trưng. Chất liệu múa của mỗi một dân tộc sẽ có những đặc thù riêng để có thể sắp xếp theo những cách nhìn khác nhau nhưng nói chung vẫn phải đạt được tiêu chí này. Do đó các động tác, chất liệu trong hệ thống phải có cấu trúc từ đơn giản đến phức tạp, từ động tác đơn tới các tổ hợp, từ “tĩnh” sang “động”, từ động tác này sang động tác khác khi diễn viên thay đổi vị trí, trọng tâm…
Hiện nay trong các giáo trình giảng dạy múa dân gian dân tộc đang sử dụng còn có nhiều điểm chưa thể gọi được là hệ thống do mất tính liên kết giữa các thế; chưa có các “mối nối chuyển tiếp” để hình thành một tổ hợp hợp lý do đó tính uyển chuyển mềm mại chưa đạt; các quy định “khung”, bắt buộc chưa có nhiều nên tính nguyên tắc còn lỏng lẻo dẫn đến trên thực tế các biên đạo, diễn viên càng có điều kiện nghiêng nhiều về tính chủ quan, đánh mất các yếu tố nguyên bản khi dàn dựng và biểu diễn một tác phẩm múa dân gian dân tộc.
Ngoài ra còn có hiện tượng chưa đánh giá đúng các yếu tố nguyên gốc và yếu tố tiếp biến, lẫn lộn giữa yếu tố chuyên nghiệp và dân gian. Vì vậy khó có thể đề ra các phương pháp bảo tồn có hiệu quả đối với múa dân gian của mỗi dân tộc. Tính chặt chẽ, logic còn giúp cho hệ thống chất liệu sẽ biến đổi theo nhiều tổ hợp hoặc liên kết giữa các tổ hợp từ đó làm phong phú thêm chất liệu cơ bản, góp phần xây dựng một hệ thống chất liệu hoàn chỉnh có sự liên kết qua lại từ những yếu tố cơ bản tới các hình thái phức tạp để tạo ra các sản phẩm đa dạng, phong phú về chất liệu tổ hợp.
Thí dụ: Đối với múa dân tộc Việt, cần tập trung rà soát lại toàn bộ hệ thống múa “Bóng rỗi” (múa mâm vàng) nhằm điều chỉnh, bổ sung thêm những chất liệu động tác mà trước đây nhiều người cho rằng nó mang nặng yếu tố của xiếc - tạp kỹ, song thực ra đó chính là phần thăng hoa của buổi lễ, là cao trào của Bóng rỗi. Với những kỹ thuật quay bằng đầu gối, di chuyển trên vòng trơn hoặc cuộn người, lăn người, tung mâm, lật mâm, cắn dao, ngậm mâm, chồng người trên xe đạp, xoay ô, bật quạt… đều là những kỹ xảo hấp dẫn chưa được khai thác.
Trong tình hình hiện nay với sự mai một của múa dân gian dân tộc, việc định hình lại những chất liệu để từ đó có điều kiện bảo tồn và phát huy các giá trị của múa dân gian dân tộc là vô cùng cần thiết và phải làm ngay không chỉ đối với múa dân gian dân tộc vùng Nam Bộ, mà với cả các vùng miền khác trong cả nước.
Bất kỳ một hệ thống lý thuyết nào nếu muốn tồn tại và đạt được kết quả trên thực tế đều phải đề cao tiêu chí này. Muốn đạt được tính phổ biến hoặc phát huy hết cái đẹp, cái đặc sắc của nghệ thuật múa từng dân tộc thì hệ thống phải dễ nhớ, dễ thực hành và đương nhiên phải dễ hiểu múa dân gian dân tộc Việt Nam nói chung cũng như thực trạng múa dân gian dân tộc vùng Nam Bộ nói riêng chưa được phát triển và có phần mai một là do một phần chưa đạt được tiêu chí này. Các hệ thống hiện có phức tạp, chồng chéo, chưa rõ mục tiêu, tiêu chí do đó kém sức lan toả, mỗi địa phương lại có một kiểu thực hành riêng làm cho người dàn dựng, người biểu diễn không hiểu nhau hoặc sử dụng không đúng chất liệu đặc thù vùng miền, cản trở sự phát triển của nghệ thuật múa dân gian dân tộc.
Nguyên nhân của hiện tượng này thì có nhiều, thuộc cả về chủ quan và khách quan. Do đặc điểm của nghệ thuật múa là dùng ngôn ngữ cơ thể từ dáng điệu, tư thế, ánh mắt cho đến các ngôn ngữ của ngón tay, bàn tay, thế chân… để thể hiện hình tượng từ các hiện tượng trong đời sống sinh hoạt tự nhiên tới các hình tượng bắt chước sự chuyển động của các loài muông thú… cho nên sẽ rất phức tạp và có nhiều khó khăn khi xây dựng thành một hệ thống dễ hiểu. Các phân loại lại thêm phần phức tạp do các chất liệu lại vô cùng đa dạng về xuất xứ nguồn gốc, về cách thể hiện, một vài trường hợp còn mơ hồ về xuất xứ nguyên bản.
Về chủ quan là do các hệ thống, giáo trình đào tạo múa đã được hình thành từ lâu, có những giáo trình đã có tuổi đời trên 60 năm nhưng đến nay còn chưa được cập nhật, chưa có sự “kiểm đếm” trên thực tế, đặc biệt là đối với các dân tộc ở miền Trung và miền Nam. Vì vậy còn nhiều sự khác biệt, khó hiểu trong thực hành giữa đào tạo và thực tế hiện đang diễn ra. Các nghệ nhân có nhiều điểm chưa thống nhất với cái nhìn trong giảng dạy của các cơ sở đào tạo múa trên toàn quốc. Giáo trình chưa đạt được tiêu chí dễ thực hành khi còn có nhiều điểm mâu thuẫn giữa giảng viên trong các cở sở đào tạo và nghệ nhân, do đó dẫn đến điểm khác biệt lớn giữa các tác phẩm sân khấu hoặc các tiết mục do các biên đạo học tại các trường đào tạo múa dàn dựng và các tác phẩm do các nghệ nhân dàn dựng.
Tính dễ thực hành, dễ nhớ đã được các nghệ nhân vận dụng một cách có hiệu quả để tổ chức các đội múa, các câu lạc bộ để xây dựng các tiết mục phục vụ đời sống văn hoá hàng ngày của cộng đồng và lan toả các giá trị nghệ thuật và tinh thần trong nhân dân. Tuy nhiên các kiến thức này đang mang tính dân gian truyền khẩu, chưa bền vững, chưa có sự đánh giá, tổng kết để hình thành các luận cứ khoa học.
Do đó cần hướng tới xây dựng những hệ thống chất liệu múa có thể dùng được cho đào tạo chuyên nghiệp và biên soạn các tài liệu cho việc giảng dạy trong cộng đồng của mỗi dân tộc. Các hệ thống chất liệu múa này phải là nền tảng cơ bản để xây dựng các chương trình đào tạo chuyên sâu mang tính thực hành cao và sát với thực tế phát triển của nghệ thuật múa dân gian dân tộc hiện nay.
Hiện nay các nhà nghiên cứu chia thường phân loại nghệ thuật múa dân tộc thành các hình thái như múa cung đình, múa cổ điển, múa dân gian sinh hoạt, múa dân gian tín ngưỡng… với một số điệu múa đặc trưng của mỗi dân tộc. Tuy nhiên đối với vùng Nam Bộ một số điệu múa có thể không xếp loại được do có những yếu tố không rõ nét, do đó không thể khiên cưỡng áp dụng những cách phân loại đã có. Nhưng bên cạnh đó có thể xuất hiện những khái niệm mới mà các nhà nghiên cứu không thể bỏ qua vì nguồn gốc xuất xứ, các tiếp biến văn hoá cả trong và ngoài nước ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự phát triển của múa dân gian dân tộc vùng Nam Bộ.
Các kết quả khảo sát cho thấy sự phân hoá một cách rõ ràng giữa các động tác khó và các động tác dễ thực hành, giữa các hình thức sân khấu và dân gian, giữa phần gốc xuất xứ từ văn hóa vật thể (múa Chăm) cho tới có phi vật thể mang tính quốc tế (múa Khơ Me), các hình thức tiếp biến văn hóa giữa các vùng miền trong nước (múa Bóng rỗi)… Ngoài ra các hình thái múa cung đình, cổ điển có thực sự tồn tại đối với múa dân gian dân tộc vùng Nam Bộ hay không? Như vậy, đối với các điệu múa dân gian dân tộc này thì đâu là cái “gốc” lý thuyết, “gốc” thực tế?
Ngay cả các nhà lý luận trong lĩnh vực múa cũng có ý kiến khác nhau về quan điểm nguồn gốc. Ví dụ đối với múa Chăm, chúng ta rất cám ơn NSND. Đặng Hùng đã là người hồi sinh cho múa Chăm và đưa múa Chăm thành một thành tố quan trọng, không thể thiếu được trong kho tàng nghệ thuật múa dân gian dân tộc của Việt Nam. Nhưng có thể thấy rất nhiều động tác, tư thế đã được ông tìm tòi, sáng tạo từ những bức phù điêu, từ truyền thuyết của dân tộc Chăm. Vậy với sự pha trộn đó chúng ta có gọi là “gốc” hay là sự tiếp biến? Hay như các động tác khó trong sân khấu Rô Băm của múa Khơ Me với các chi tiết biểu cảm tinh tế, nghệ thuật kết hợp với kỹ thuật khó có thể xếp vào loại hình chuyên nghiệp được không? Nếu ta để dân gian tiếp nhận những cái dễ, lan toả cái thuận thì với những hình thức khó, các động tác cần phải được học một cách bài bản, có quy tắc chặt chẽ... thì sẽ xử lý như thế nào để múa Khơ Me có thể được phát triển toàn diện?. Do đó cũng cần phải phân loại thành chuyên nghiệp và dân gian để thích nghi với điều kiện của vùng đất Nam Bộ. Trên nguyên tắc đó thì cái gốc của các điệu múa phải chăng bắt nguồn từ các hình thức mang tính chuyên nghiệp?. Như có một số nhà nghiên cứu về múa cổ điển Việt Nam đã lấy các hình thức múa sân khấu truyền thống là cơ sở hình thành.
Hoặc với hệ thống múa của 2 dân tộc Chăm và Khơ Me, cần rà soát lại toàn bộ hệ thống động tác mà trước đây các giáo viên tiền bối đã sưu tầm đưa vào giáo trình giảng dạy tại trường múa Việt Nam, nhưng hiện nay các giáo viên lớp sau lại chưa có điều kiện nắm chắc hệ thống động tác đó vì đa số giáo viên này trước đây làm diễn viên, sau chuyển sang làm huấn luyện viên nên không nắm vững hệ thống động tác. Trong quá trình giảng dạy, họ nhớ được động tác nào thì dạy động tác đó, cuối năm làm bài thi lại tự sáng tạo ra nhiều động tác mới, rồi lâu dần ngộ nhận đó là chất liệu gốc của múa dân tộc. Hoặc cũng có một số giáo viên được nhà trường cử về các tỉnh, gặp gỡ các nghệ sĩ múa của đoàn nghệ thuật ở đó và được truyền dạy lại một số chất liệu động tác. Vì họ là người Khơ Me chính gốc nên ta hoàn toàn tin tưởng đó là chất liệu nguyên gốc, nhưng có biết đâu chính các nghệ sĩ này đã từng sang Campuchia học lại các điệu múa, may sắm trang phục, đạo cụ đem về Việt Nam để dàn dựng chương trình cho đoàn đi tham gia hội diễn. Vì vậy, nếu xem chương trình biểu diễn của 2 đoàn Việt Nam và Campuchia, ta thấy nó giống nhau tới 80-90%.
Còn rất nhiều vấn đề phải bàn trong việc phân loại nhưng chúng ta phải thống nhất cách xử lý của mỗi trường hợp là không giống nhau về nguyên tắc, và phải phụ thuộc vào các yếu tố lịch sử, địa lý, văn hoá để phân loại cho thật chính xác. Có phân loại đúng thì mới có phương án xây dựng hệ thống chất liệu, mang tính bền vững, có cơ sở vững chắc dựa trên quan điểm khoa học và thực tiễn.
Như vậy nếu chúng ta không có nhận thức đúng về vấn đề bảo tồn và phát triển thì vô tình sẽ làm biến dạng, sai lệch bản sắc riêng có của nghệ thuật múa dân gian của từng dân tộc, đi ngược lại với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước là xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc.
Bảo tồn và phát triển nghệ thuật múa dân gian dân tộc không thể tách rời các yếu tố văn hoá, tôn giáo, trang phục. Văn hoá và tôn giáo là “hồn cốt” của mỗi điệu múa, thậm chí mỗi động tác múa. Khi xem một điệu múa, khán giả có thể nhận thấy sự hiện diện của các giá trị. Bảo tồn và phát triển văn hoá, tôn giáo qua các động tác, tốc độ chuyển động và trang phục biểu đạt. Kiến thức về văn hoá, tôn giáo đóng một vai trò quan trọng để xây dựng, phục hồi lại những hệ thống chất liệu múa đã bị mai một một phần hoặc thất truyền trên thực tế. Những yếu tố này đáp ứng phần thị giác của khán giả để định hình những đặc thù, đặc trưng của mỗi dân tộc.
Đối với người Chăm, văn hoá, tôn giáo vùng Ninh thuận, Bình Thuận khác với vùng An Giang, Tây Ninh. Người Chăm vùng An Giang, Tây Ninh chịu ảnh hưởng của văn hoá Hồi giáo và Ấn Độ cho nên tính chất, phong cách múa cũng có nhiều điểm khác biệt như kín đáo trong các động tác phô diễn cơ thể, tay không vung mạnh cách xa khỏi thân người, khác với phong cách múa phóng khoáng, dịu dàng trong mạnh mẽ, thoải mái, và ẩn một chút cương quyết của người Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận.
Người Khơ Me với thuyết văn hoá Âm – Dương thể hiện trong cách sắp xếp vị trí của múa đôi nam nữ, cách để lòng bàn tay của hai bàn tay. Hoặc các quy tắc văn hoá, tôn giáo như trong lúc múa Rom vong mời người trẻ trước, người lớn tuổi sau; Trong lúc múa, người nữ không được nhảy qua đầu người nam; Cùng một động tác giơ tay hoặc chắp tay đứng đối xứng thì tay người nữ có tầm thấp hơn tay người nam; Khi múa cổ điển, người nữ không được cười hở răng…
Hoặc trong múa Bóng rỗi hoặc múa Mâm, trang phục phải kín đáo vì đây là các điệu múa cúng thần linh. Các trang phục cũng phải tính tới màu sắc đặc trưng cho mỗi quốc gia. Đặc biệt ở các vùng biên giới có phần giáp với cửa khẩu, các dân tộc đều có quan hệ họ hàng ở cả hai bên đường biên nên việc lựa chọn trang phục hết sức phức tạp vì cách lựa chọn màu sắc kiểu dáng sẽ là một phần trong bộ nhận diện của tiết mục. Ngoài ra trang phục còn phụ thuộc vào tính chất của mỗi điệu múa và ngược lại giúp cho điệu múa hoàn chỉnh về thị giác. Cho nên việc giới thiệu các kiểu dáng quần áo, hoa văn, trang phục truyền thống nên có trong hệ thống chất liệu múa của mỗi dân tộc.
Còn rất nhiều thí dụ tương tự chứng minh sự cần thiết phải tôn trọng những đặc trưng của mỗi nền văn hoá, tôn giáo. Vì vậy sự hiểu biết về văn hoá, tôn giáo mỗi dân tộc đóng vai trò quan trọng để xây dựng những quy tắc cần thiết trong hệ thống chất liệu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng nhanh chóng tiếp cận các kiến thức liên quan.
Xây dựng các tiết mục múa không thể thiếu phần âm nhạc, bao gồm các yếu tố giai điệu, hoà thanh, phối khí, âm điệu đặc thù. Bên cạnh đó là âm sắc các nhạc cụ đặc trưng của mỗi dân tộc. Âm nhạc và múa như một cơ thể không thể chia cắt. Có những điệu múa dân gian Chăm chỉ cần trống Baranưng phụ hoạ nhưng chỉ nghe tiếng trống, nghe nhịp điệu là chúng ta có thể biết đó là chất liệu của dân tộc nào... hoặc đàn Thuyền trong múa Khơ Me; trống chiến, đàn cò, đàn sến, đàn kìm, mõ, song loan,...trong múa Bóng rỗi. Âm nhạc còn đóng vai trò dẫn dắt “câu chuyện”, xác định thể loại, tính chất của mỗi tiết mục. Do tính trừu tượng và cách biểu trưng các hình ảnh bằng âm thanh cho nên thông qua thính giác, khán giả nghe và cảm nhận những yếu tố âm nhạc để có thể cảm thụ được những ý đồ của biên đạo thông qua mắt nhìn người múa, tai nghe âm nhạc.
Do đó âm nhạc phải được đặt đúng “vị trí”, đúng tính chất của mỗi thể loại múa để có thể phát huy được hết hiệu quả về âm thanh giúp người nghệ sĩ múa có thêm cảm hứng, thăng hoa trong biểu diễn và cũng là phương tiện giúp người xem dễ dàng tưởng tượng những hình tượng được tạo hình trên sân khấu.
Vì thế, khi xây dựng các hệ thống chất liệu cần có thêm phần chất liệu về âm nhạc. Đó là một số giai điệu làm chất liệu cho các sáng tác phần âm nhạc của mỗi tiết mục. Các chất liệu này phải là các giai điệu nguyên bản, chưa bị lai với giai điệu của các dân tộc khác.
*
* *
Việc khảo sát, hệ thống hóa múa dân gian của các vùng miền Việt Nam cho đến nay chưa được thực hiện một cách toàn diện và chuyên sâu. Đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam. Một số giáo trình giảng dạy múa dân gian Nam Bộ được lấy chất liệu từ nhiều nguồn khác nhau chưa được kiểm chứng một cách khoa học, nhất là các giáo trình được xây dựng từ những năm 1960-1970. Do đó đã tạo ra những hình ảnh chưa chính xác về múa dân gian Việt Nam.
Trong bối cảnh mở rộng giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế của nước ta, việc bảo tồn và phát huy múa dân gian có một ý nghĩa rất quan trọng, một mặt góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời đáp ứng nhu cầu về mặt lý luận cũng như thực tiễn xã hội, phù hợp với đường lối văn nghệ của Đảng ta là bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Vùng đất Nam Bộ là vùng đất có cơ tầng văn hóa phong phú, với nhiều lớp văn hóa đan xen nhau, đặc trưng văn hóa của vùng đất này là sự biến động và tiếp biến văn hóa vì vậy múa dân gian vùng Nam Bộ cũng chịu ảnh hưởng bởi đặc trưng này. Do vậy cần nghiên cứu một cách có hệ thống để có thể bảo tồn và đề ra những biện pháp phát huy hệ thống múa dân gian vùng này một cách có hiệu quả trong bối cảnh hiện nay./.
Đ.P.L.T
(Tạp chí Văn hóa học, số 4 (62) - 2022)
Tài liệu tham khảo
Lê Ngọc Canh (2001), 100 Điệu múa truyền thống Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Lê Ngọc Canh (2002), Đại cương nghệ thuật Múa, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Phan Văn Dốp - Nguyễn Việt Cường (1991), “Người Chăm ở đồng bằng sông Cửu Long”, Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Nhiều tác giả (1988), Tìm hiểu vốn văn hoá dân tộc Khơ Me Nam Bộ, Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, Cần Thơ.
Nhiều tác giả (1993), Duy trì phát triển nghệ thuật múa truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tiền Văn Triệu, Lâm Quang Vinh (2015), Lễ hội truyền thống của người Khơ Me Nam Bộ, Nxb. Khoa học xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trương Ngọc Tường (2017), Kỷ yếu Hội thảo Tín ngưỡng thờ nữ thần và thực hành Bóng rỗi - Địa Nàng tại Nam Bộ, Đồng Nai.
Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên), Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp (2001), Dân tộc học đại cương, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Viện Văn hóa Thông tin (1998), Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khơ Me Nam Bộ, Nxb. Tổng hợp, Hậu Giang.
Bình luận
Bài viết cùng chuyên mục