Điện ảnh Mỹ và công nghệ truyền thông

Ngày đăng: 12/10/2026 Lượt xem: 124
Mặc định Cỡ chữ

 

ĐIỆN ẢNH MỸ  VÀ CÔNG NGHỆ TRUYỀN THÔNG

                                                         PGS.TS. Lê Đình Cúc


1.   Phim màn ảnh rộng*

Điện ảnh Mỹ được đặt trong một môi trường phát triển toàn diện của mỹ thuật và công nghệ của văn hóa, và nhất là của sức mạnh to lớn của truyền thông đại chúng với công nghệ nghe - nhìn của thời đại. Điện ảnh cũng là trung tâm của văn hóa từ kịch bản đến âm nhạc, từ hội họa đến chụp ảnh và quay phim, từ đạo diễn đến diễn viên. Mỹ là đất nước hội tụ được tất cả những ưu thế đó của thế giới. Không phải chỉ từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai đến nay Mỹ với kinh đô điện ảnh thế giới Hollywood đã thu hút phần lớn những ngôi sao điện ảnh thế giới mà ngay từ đầu thế kỷ XX, hay đúng hơn là từ khi nghệ thuật thứ 7 ra đời, Mỹ đã là nơi hội tụ và phát triển tài năng của nhiều nghệ sĩ lớn của thế giới.

Đến nay tại Đại lộ Hollywood, ở vỉa hè lát đá hoa cương có hơn 2.500 ngôi sao bằng đồng sáng lấp lánh mà mỗi ngôi có tên của một nghệ sĩ nổi danh. Trong đó ta thấy Charlie Chaplin, Gary Cooper, Spencer Tracy, John Wayne, Jame Stewart, Elizabeth Taylor, Marilyn Monroe, Marlon Brande, J. Carney, Henry Fonda, Ginger Rogers, Better Davis, Britney, Machael Jackson…

Nói đến điện ảnh Mỹ ngày nay là phải nói đến Hollywood, phải nói đến những hãng phim nổi tiếng, từ những năm 20 của thế kỷ XX: Paramount, Metro – Goldwin Mayer, Fox, First National, Warner Bros, R.K.O Columbus, Walt Disney… Với những đạo diễn tài ba  Strheim, Lubitsch, King Vidor, Harry Lamdom… để hôm nay có những tên tuổi lẫy lừng như: James Cameron, Spielberg, Sternberg, Leni, Sjostrom, Stiller, Ann Fletcher, Lone Scherfig, Kathryn Bigelow… với hơn 130 bộ phim được giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới: Oscar (chỉ tính riêng phim Mỹ). Có những bộ phim được nhiều giải Oscar: đạo diễn, kịch bản, diễn viên chính, diễn viên phụ, quay phim… nhưng cũng có bộ phim được giải Oscar cho một trong những đề mục.

 Để thấy rõ hơn những thành tựu rực rỡ của điện ảnh Mỹ từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, ta phải tìm hiểu Hollywood, nơi khai sinh ra nền công nghiệp điện ảnh Mỹ. Hollywood – tên ghép của hai từ đặc trưng ở khu vực ngày xưa rất hoang vắng của nước Mỹ. Holly – “một loại cây ô rô, lá nhỏ xanh quanh năm, bóng và cứng, có quả đỏ mọng vào mùa đông – cành của nó được dùng để trang trí vào lễ Noel – tức là cành ô rô giáng sinh” (1), và Wood là rừng. Hollywood là cánh rừng ô rô nằm trong một trang trại chăn nuôi lớn của gia đình Wilcox. Sau này là một thị trấn lớn nằm trong thành phố Los Angeles thuộc bang California ở miền Tây – Tây Nam của nước Mỹ. Với diện tích  2.496 dặm vuông (64,6km2), dân số địa phương 123.436 người, khi trở thành kinh đô điện ảnh người ta vẫn gọi với cái tên lóng (nickname) là Thành phố phát triển những ngôi sao (Star Strack Town) hay Thành phố lấp lánh (Tinsel Town) để chỉ thành phố Hollywood và cũng để chỉ nền công nghiệp điện ảnh Mỹ.

Thời kỳ đầu (1910), Griffith – một đạo diễn nổi tiếng đã vượt 4.000km cùng nhóm làm phim của mình đến khu vực hoang sơ này để tìm cảnh quay cho một bộ phim do ông đạo diễn. Lúc đó chưa có kỹ thuật tinh xảo như sau này. Để có ánh sáng và các cảnh làm nền, ông đã tìm đến đây bởi vùng quê hoang vắng này tràn ngập ánh nắng mặt trời, có bờ biển xanh bát ngát, có núi đồi, rừng rậm và sa mạc, có đồng cỏ và làng xóm cổ sơ của thổ dân da đỏ. Vậy là không phải dựng trường quay (Studio)… Theo chân Griffith nhiều đoàn làm phim khác cũng đổ xô đến miền đất  hoang vắng này. Chỉ sau vài năm trang trại chăn nuôi nhà Wilcox trở thành một thị trấn sầm uất với những khách sạn và đại lộ nổi tiếng.

Điện ảnh Mỹ trở thành một nền công nghiệp siêu lợi nhuận. Từ đây phim Mỹ đè bẹp phim châu Âu và chiếm lĩnh thị trường thế giới ngay từ Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất.

Hollywood ngày nay là một tổ hợp của công nghiệp điện ảnh. Trường quay, trường kỹ thuật, trường đào tạo diễn viên, đạo diễn, tác giả kịch bản, trường đào tạo hóa trang, trang phục và ánh sáng... Các nhà máy và xí nghiệp sản xuất phim chụp ảnh (Kodak), công nghệ tráng phim và in ảnh… tập trung nhất là ở hãng Paramount Pictures.

Ở đây cũng là nơi tập trung các tập đoàn sản xuất băng, đĩa CD, DVD và dụng cụ nghe – nhìn nổi tiếng thế giới, hấp dẫn khách du lịch là những đại lộ ngập tràn ánh sáng và hoa lệ của khu Bererly Hills và West Hollywood nơi tập trung những biệt thự sang trọng, xa hoa của những tài tử điện ảnh Mỹ. Xe cộ đủ mốt và đắt tiền, các cửa hàng thời trang, vàng bạc, đá quý, kim cương… ít nơi trên thế giới sánh được. Các đại lộ với những khu phố hiện đại và giàu sang như Barham Boulevard, Cahuenga Boulevard, Huperion Avenue, Golden State Freeway hay Melrose Avenue… Các nhà ngân hàng và các công viên Griffith Park, Los Feliz Viện Hàn lâm Điện ảnh (Academy Awards) là địa chỉ tìm đến của khách du lịch.

Hollywood của những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI càng phát triển nhanh chóng hơn và rực rỡ hơn trên các mặt nghệ thuật  và thương mại.

Ngày 22-1-1947 đài truyền hình thương mại đầu tiên được khai trương ở đây để rồi phát sóng khắp nước Mỹ những bộ phim vừa xuất xưởng của Hollywood và sau đó là The Public Prosecutor – hệ thống mạng toàn cầu (Network) của vô tuyến truyền hình cũng được hoạt động tại đây. Những năm 50 của thế kỷ XX các tổ hợp ghi âm băng đĩa và các văn phòng của công nghệ nghe nhìn của các tập đoàn kinh tế Mỹ cũng chuyển đến Hollywood làm cho cơ sở vật chất của công nghệ điện ảnh đổi mới không ngừng và liên tục phát triển. Năm 1952 kênh truyền hình CBS (CBS Television City) được phát sóng ngay ở góc hai đại lộ Beverly Boulevard và Fairfax Avenue.

Thời kỳ này hệ thống đường tàu điện, xe bus, đường đi bộ đan xen khắp thành phố đã được hoàn tất, nối liền mọi ngóc ngách thành phố về trung tâm, tạo điều kiện đi lại dạo chơi, du ngoạn cho khách du lịch. Sau đó là Trường dạy nghề Hollywood (Hollywood Professional School) ra đời hàng năm thu hút hàng nghìn sinh viên, học sinh đến học. Ngay sau đó là Hollywood Walk of Fame một trung tâm giao lưu và làm việc của các nghệ sĩ, những cộng tác viên của bộ máy công nghiệp điện ảnh, sân khấu vô tuyến truyền hình, âm nhạc… có mặt ở diễn đàn này. Năm 1985 cả một khu vực rộng lớn và hoành tráng “Khu Giải trí và Thương mại Đại lộ Hollywood” (Hollywood Boulevard Commercial Entertainment District) được xây dựng và trở thành trung tâm thương mại và giao dịch điện ảnh lớn nhất thế giới.

Ở đây các trụ sở của các tập đoàn truyền thông cũng được xây dựng: KNBC (1902), NBC Radio City Studio NBC, KTTV (1996), KABC – TV, ABC News, 20th Century Fox (2001), CBS Studio Center, KTLA và KCET (Đài Phát thanh và Truyền hình). Năm 2005 có thêm trường quay (Phim nhựa và phim Video) Miracle Mile… Cùng với chúng là nhiều siêu thị cực kỳ hiện đại, vô số những nhà hàng, quán rượu, câu lạc bộ và nhiều sòng bạc phục vụ khách du lịch, tập trung nhiều nhất ở Đại lộ Hollywood và tổ hợp Highland (gần Nhà hát Kodak)…

Hollywood với cơ sở vật chất và kỹ thuật không nơi nào trên thế giới có được lại được chính phủ Mỹ tạo mọi điều kiện cho công nghiệp điện ảnh phát triển, có chính sách rõ ràng, có chiến lược lâu dài, có biện pháp cụ thể, từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, điện ảnh Mỹ được xác định là một mũi nhọn văn hóa và kinh tế. Điện ảnh Mỹ là phương tiện khổng lồ và hữu hiệu nhất nhằm chuyển tải những giá trị của nền văn hóa đại chúng Mỹ, bởi lợi thế tuyệt đối của đặc thù nghệ thuật điện ảnh khiến nó có thể  tiếp cận nhanh nhất, rộng nhất với đông đảo quần chúng nhân dân khắp thế giới.

Phim Mỹ sản xuất thống trị toàn bộ thị trường nội địa và nó còn vươn xa tới hơn 100 nước trên thế giới. Hơn một nửa tổng thu nhập của các công ty điện ảnh Mỹ là từ nước ngoài. Không có một ngành công nghiệp nào của Mỹ, dù là General Motor hay Oil Standard lại có doanh thu từ nước ngoài lớn như điện ảnh. Phim Mỹ có mặt ở hầu hết các rạp chiếu bóng trên thế giới, từ khi xuất hiện vô tuyến truyền hình phim Mỹ càng làm mưa làm gió. Cả khi video ra đời, dù có sự cạnh tranh ráo riết giữa phim nhựa màn ảnh rộng với màn ảnh vô tuyến nhưng chưa bao giờ phim nhựa của Mỹ chịu lép vế. Cuối cùng thì video cũng chỉ là phương tiện và công cụ để làm tăng thêm sự lan truyền và phổ biến của phim Mỹ mà thôi. Gần như tất cả các đài truyền hình của các nước trên thế giới đều chiếu phim Mỹ qua màn ảnh nhỏ. Một khối lượng lớn các bộ phim Mỹ được chiếu liên tục ở rất nhiều kênh. Ở Việt Nam không chỉ có các kênh của Mỹ như Discovery, National Graphie Max, MTV, HBO, Cinemax, mà tất cả các đài truyền hình của 63 tỉnh thành và tất cả các kênh truyền hình cáp và truyền hình kỹ thuật số đều có chiếu phim Mỹ. Vậy thì ở các nước khác, toàn thể châu Âu, châu Mỹ, châu Phi… con số phim Mỹ được chiếu trên truyền hình đáng kinh ngạc biết bao. “Ai kiểm soát công nghệ điện ảnh sẽ kiểm soát phương tiện ảnh hưởng tới người dân” (2) (Edison). Trong giai đoạn những năm 1970 thế kỷ XX các quốc gia trên thế giới hàng năm sản xuất được khoảng 3.500 bộ phim truyện, trong đó có 5% là do Mỹ sản xuất nhưng phim Mỹ lại chiếu ở các rạp 50% thời lượng. Sau năm 1989 và nhất là khi Chiến tranh Lạnh kết thúc thì phim Mỹ ào ạt đổ vào Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ không có cách gì ngăn chặn được.  

Không chỉ ở các nước chậm phát triển, phim Mỹ thống lĩnh hầu như toàn bộ trên các màn ảnh mà các nước ở châu Phi, châu Mỹ Latinh hay Đông Âu cũng vậy. Có đến 82% phim chiếu ở châu Âu là phim Mỹ, 60% mạng lưới phát hành ở châu Âu là do các tập đoàn truyền thông Mỹ tài trợ (3). Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, các nước chậm phát triển đang ở trong tình trạng xáo trộn và kinh tế nghèo không có phương tiện công nghệ… không có điều kiện và kinh phí để sản xuất phim. Các tập đoàn truyền thông với mạng toàn cầu của Internet và vệ tinh liên lục địa, truyền hình cáp và kỹ thuật số, đầu video… đã có mặt và chờ đợi. Thời gian thì vẫn phải sử dụng, nhu cầu thưởng thức phim và ca nhạc của người dân thì vẫn phải đáp ứng. Chỉ có cách là nhập và chiếu phim Mỹ. Phim Mỹ hay ở nội dung, kỹ thuật và công nghệ siêu đẳng (nói chung là thế) lại nhiều và rẻ, được quảng cáo tốt, phim Mỹ là thứ hàng hóa nhập khẩu dễ dàng nên nó tràn ngập thế giới. Trên phương diện kinh tế và đầu tư cho sản xuất thì phim Mỹ có giá thành rẻ nhất bởi công nghệ, bởi dây chuyền sản xuất, bởi quản lý và hệ thống quảng cáo siêu đẳng. Thị trường nội địa Mỹ hết sức to lớn. Dân số đông, thu nhập của người dân vào hạng cao nhất thế giới (27 – 30.000 đô la), nhu cầu thưởng thức văn hóa rất lớn cho nên phim Mỹ trước khi phát hành ra nước ngoài thì đã thu được đủ vốn, hoặc có lãi ở ngay thị trường trong nước. Có bộ phim chỉ trong vài tuần chiếu ở rạp thì đã thu về hàng chục, hàng trăm triệu đô la ở thị trường Mỹ (với giá vé quá đắt so với thu nhập của các nước khác). Phim Crash (Tai nạn) 53 triệu đô la năm 2006, Annie Hall 70 triệu đô la năm 1997 (tương đương 130 triệu đô la, 2010), Hurt Locker (Nơi chốn khổ đau) 14 triệu đô la. Đến thế mà vẫn là những phim doanh thu thấp nhất trong các phim nổi đình đám, được giải Oscar. Còn cao nhất thì là con số gây bàng hoàng. Ví dụ: Avatar đã thu được 2,6 tỷ đô la doanh thu vé toàn cầu. Với chi phí bỏ ra để sản xuất  Avatar  là 273 triệu đô la, thu được hàng tỷ đô la tiền lãi cho một bộ phim (Nên nhớ hàng năm trung bình Mỹ cho xuất xưởng đến con số trăm bộ phim). Nhưng con số 273 triệu đô la để sản xuất một bộ phim thì không phải nhiều nước gánh chịu được. Đành phải mua phim Mỹ.

Công nghiệp điện ảnh Mỹ là nền công nghiệp non trẻ nhưng mang về cho Mỹ lợi nhuận khổng lồ (xét riêng về kinh tế), là phương thức truyền bá giá trị Mỹ lớn nhất (xét về mặt văn hóa), và là người lính xung kích trong chiến lược Mỹ hóa toàn cầu về văn hóa. Là một ngành sản xuất và kinh doanh siêu lợi nhuận. Điện ảnh Mỹ là một tập đoàn công nghiệp quốc tế, là một công ty đa quốc gia. Với quyền năng kinh tế nó có thể chi phối các nước khác từ kinh tế chính trị, văn hóa và xã hội hơn bất cứ một công ty đa quốc gia nào khác.

Bắt đầu từ những năm 20 của thế kỷ trước, điện ảnh Mỹ ráo riết cạnh tranh, lôi kéo đạo diễn, diễn viên tài năng ở các nước khác đến Mỹ bằng tiền thù lao kếch xù. Họ cũng tăng vốn đầu tư cho từng bộ phim. Ta lướt qua tiền thù lao (case) cho các diễn viên trong từng thời kỳ qua mỗi phim như sau: Bing Crosby 325.000 đô la (1946), John Wayner 750.000 đô la (1959), Marlon Brands trong phim Siêu nhân (Superman) (1978 - 1979) mỗi ngày được trả 290.000 đô la (trong 12 ngày đóng phim) và đến 1982 còn nhận thêm 15 triệu đô la tiền lãi phim. Nhà văn hóa học Hữu Ngọc đã tính chi ly là diễn viên này đã nhận trung bình 18.500.000 đô la trong 10 phút xuất hiện trong phim. Jane Fonda, nữ diễn viên xuất sắc đã từng sang Việt Nam phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ, bị chính quyền Mỹ thẩm vấn sau khi ở Hà nội về nhưng vẫn nhận được 23 triệu đô la tiền lương (1985 - 1989), S.Stallone nhận 25 triệu đô la lương cơ bản, Schwarzenegger nhận 15 triệu đô la. Tiền lương của Cruse là 10 triệu đô la. Murray 8 triệu đô la… Trong số những đạo diễn tài ba của điện ảnh Mỹ có các tên tuổi đến từ Thụy Điển, Áo, Nga… và có rất nhiều gương mặt đạo diễn tài năng ở lứa tuổi trẻ trung như Altman, F.Coppola, Cimino S.Kubric, Cameron J. Lina Wertmuller, Jane Campion, Sofia Coppola, Andrea Arnold, Lone Scherfig…

Phim Mỹ được dàn dựng tại Hollywood đa dạng về chủ đề, phong phú về thể loại (phim truyện, phim thần thoại, phim tài liệu, phim chân dung, phim viễn tưởng, phim hoạt hình, phim đồ họa…), lại được sự hỗ trợ tối đa của máy tính, của âm nhạc tuyệt vời, của ánh sáng và trường quay (Studio) hiện đại với kỹ thuật siêu đẳng và đội ngũ kỹ thuật viên chuyên nghiệp. Trên hết là những nhà biên kịch tài ba, những nhà văn danh tiếng có nhiều kịch bản để dàn dựng cùng đội ngũ diễn viên tài năng, đẹp và giỏi nghề, đầy sáng tạo. Nhiều người tìm đến Hollywood bởi nơi đây là xứ sở của mộng mơ, là miền đất hứa thậm chí có người coi đây là thiên đường. Một người vô danh nào đó, ở xó xỉnh nào đó trên trái đất, ngụp lặn trong đói nghèo, đến đây bỗng chốc trở thành ông hoàng bà chúa, trở thành ngôi sao lấp lánh hào quang và tiền bạc, được cả thế giới ngưỡng mộ. Elizabeth Taylor, Monroe, Madona… là những gương mặt rực rỡ nhất của Hollywood từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, cùng với những Kidman, Jolie, Cecil, Hedy Lamar, Kirten Dumst, Tom Cruise, John Depp… tạo nên một ngân hà lấp lánh trên bầu trời điện ảnh thế giới và hàng chục, hàng trăm diễn viên khác. Nhiều người thành danh, giàu có nhưng cũng có nhiều người đến đây với những ảo vọng điên cuồng nhưng rồi sớm ra đi hoặc chìm ngập trong ảo vọng, suy tàn trong cám dỗ của cờ bạc nghiện ngập và trai gái, có người chết trong nghèo đói xác xơ. Viven Leigh (nữ diễn viên ngôi sao cùng đóng với Clark Gable, trong Cuốn theo chiều gió), Monroe, “Người đàn bà đẹp nhất mọi thời đại”, Hedy Lamarr (Người đàn bà đẹp nhất trong phim ảnh) nổi tiếng với những bộ phim Money on the Street (Đồng tiền nhặt được) Extasy, Algiers, Lady of The Tropic, White Cango, Gaslight, Casablanca, Samson and Delilah, phải 6 lần lấy chồng, từng bị ngồi tù vì ăn cắp vặt trong siêu thị. Năm 2000 bà mất, tài sản để lại chẳng có gì.

Người Mỹ xác định rất rõ phim ảnh cũng là hàng hóa như mọi thứ hàng hóa khác. Để kinh doanh phim, người Mỹ cũng đặt lợi nhuận lên trên hết. Năng suất lao động, giá trị thặng dư tạo nên lợi nhuận, đó là quy luật. Vì vậy sản xuất phim phải có chất lượng, phải nhanh, nhiều và rẻ, phải quảng cáo với quy mô lớn để bán hàng. Không công khai thừa nhận nhưng người Mỹ biết  rõ, phim ảnh là sản phẩm văn hóa nên là thứ hàng hóa đặc biệt và nó còn có sứ mệnh là mũi nhọn trong chiến lược Mỹ hóa toàn cầu văn hóa, nên Hollywood còn có nhiệm vụ đó nữa. Do đó hàng năm Hollywood đổ tiền của vào sản xuất nhiều bộ phim siêu đẳng về nghệ thuật và kinh phí. Kingkong, Titanic, Người nhện, Người dơi, Apllo 13, Forest Grump, Khiêu vũ với bầy sói, Sự im lặng của đàn cừu, Shakespeare đang yêu, Trung đội, Hoàng đế cuối cùng, Sinh ngày 4 tháng 7, Không thể tha thứ, Giải cứu binh nhì Ryan, Hồi ức của một Geisha, Nơi chốn khổ đau, Cướp biển Caribe, Bóng ma, Vua sư tử,… là một số bộ phim thành công nhất từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai trong hơn 130 bộ phim được giải thưởng Oscar từ 1929 đến nay. Với những bộ phim hạng A siêu đẳng này, trong một thời gian ngắn Hollywood đã thu đủ tiền bán vé, lãi suất lớn ở ngay thị trường nội địa nước Mỹ nhờ chất lượng phim, nhờ tài năng và tên tuổi của các  diễn viên ngôi sao được ngưỡng mộ… Hollywood cũng không ngần ngại, thậm chí có chủ trương dựng những bộ phim hạng B với chi phí đầu tư thấp, lại đưa vào tư tưởng của Mỹ, tuyên truyền lối sống và giá trị Mỹ thậm chí xuyên tạc và chống cộng, đề cao bạo lực, kích động tình dục… để khi xuất khẩu ra thế giới “bán kèm” với những bộ phim danh tiếng hạng A. Cái cách “bán cả mớ” thế này, tức là đã “hạ giá, có khuyến mãi” chính là một chiêu thức kinh doanh. Nước Mỹ có 6 (sáu) hãng phim lớn chia nhau khống chế thị trường điện ảnh thế giới. Họ phối hợp với nhau cho phép khấu hao cho các phim hạng A bằng chế độ Blockbooking - tức phương thức “Đặt hàng cả nhóm” - bán mớ. Khi đối tác mua những bộ phim được giải Oscar thường thu hút khán giả đông, vé bán ra đắt, bán được nhiều vé thì họ bắt mua kèm những bộ phim hạng B như Rambo hay Mũ nồi xanh – những bộ phim chống cộng, xuyên tạc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, loại khó bán riêng.

Cũng phải nói rằng các công ty truyền thông, mạng Worldnet cũng góp phần to lớn cho những thành tựu điện ảnh Mỹ, nhất là từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay khi công nghệ truyền thông phát triển rộng khắp trên thế giới. Công nghệ quảng cáo phim Mỹ, ngoài sách, báo, tạp chí mà văn hóa truyền thống Mỹ rất thành công, ngày nay truyền hình, điện thoại di động 3G đang hoạt động dữ dội và rất có hiệu quả trong việc quảng bá phim Mỹ. Những phim loại B của Mỹ được chiếu trên tất cả các kênh truyền hình của Mỹ thu hút hàng triệu người xem. Phim nhiều tập của điện ảnh Mỹ được chiếu liên tục và nhiều khi là miễn phí cho các đài truyền hình nhiều nước hoặc chỉ thu giá rẻ. Nhờ vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật và kỹ xảo điện ảnh, phim Mỹ ngày càng thu hút khán giả khắp thế giới.

Một ví dụ, chỉ ở lễ trao giải Oscar lần thứ 82 năm 2010, hãng tin Reuters dẫn lại nguồn tin của Công ty Nghiên cứu Thị trường Nielsen cho biết, số lượng người Mỹ ngồi xem qua màn ảnh truyền hình Mỹ là 41,3 triệu người, nhiều hơn năm 2009 là 5 triệu người. Khi trao giải Oscar cho Titanic (1998) có đến 55 triệu người Mỹ – khán giả xem lễ trao giải qua truyền hình. Năm 2008 là 32 triệu và con số đúng của năm 2009 là 36,3 triệu. Con số người xem trên toàn thế giới là hàng trăm triệu.

Truyền hình gắn bó rất chặt chẽ với điện ảnh nhất là từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi nó phát triển nhanh chóng và phủ sóng khắp thế giới nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhờ vệ tinh liên lục địa. Truyền hình đã tác động lớn đến “nghe - nhìn”. Hollywood đã hợp tác với truyền hình để sản xuất nhiều phim truyền hình. Đặc biệt là thế loại Sitcom (Situation Comendy - kịch truyền thống). Truyền hình Mỹ đã mang sản phẩm và hình ảnh của Hollywood đến mọi hang cùng ngõ hẻm của thế giới. Hãng phim Walt Disney sinh ra chú chuột Mickey (Mickey Mouse) từ ngày 18-11-1928, đến nay gần trăm tuổi nhưng ai cũng yêu thích không kể trẻ con hay người lớn. Đến nay không chỉ có Mickey mà mèo Tom, vịt Donald, chó Pluto, voi Dumbo, nai Bambi, chú người gỗ Pinocchio, nàng Bạch Tuyết, cô bé lọ lem Cinderella, người cá Ariel hay cô bé Alice trong xứ sở thần tiên – Alice in the Wonderful land của Levis Carol… vẫn làm thổn thức hàng triệu trái tim người xem tất cả mọi lứa tuổi trên khắp trái đất.

Phim của Disney những năm gần đây vẫn thiên về nghệ thuật, ít chú trọng thương mại hơn các hãng khác, nhưng vẫn đạt doanh thu cao. Phim hoạt hình của Disney không chỉ thu hút trẻ nhỏ mà cũng rất hấp dẫn người lớn. Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn (Snow White and Seven Dwarts) hay Một trăm linh một con chó đốm với nét vẽ, với cảnh quay, nhất là âm nhạc đã làm bao người thổn thức. Những bài học thiện - ác, yêu thiên nhiên, yêu thương loài vật, che chở bảo vệ những kẻ yếu đuối… luôn hấp dẫn người xem. Nét đặc biệt của phim hoạt hình Disney là phim có cốt truyện, dựa vào những câu chuyện cổ tích nổi tiếng trên thế giới, của các nhà văn nổi tiếng như Anderxen, Grimm. Ngay cả những người không biết tiếng Anh, không biết chữ để đọc truyện thì vẫn thuộc lòng số phận các nhân vật để đời như nàng tiên cá Ariel, nàng Bạch Tuyết, cô lọ lem Cinderella hay Alice… ở đâu cũng có những con vật nhỏ bé đáng yêu như sóc, nai, mèo, chuột, chim và Một trăm linh một con chó đốm (1966) (One hundred and One Dahmatians). Đến nay phim của hãng Walt Disney đã được nhận 28 giải Oscar, kỷ lục cao nhất của các hãng phim Mỹ, riêng người sáng lập hãng, Walt Disney đã nhận được 19 giải Oscar trong tổng số 30 đề cử, cũng là kỷ lục đến nay chưa ai đạt được. Phương diện tài chính Disney cũng không thua kém bất kỳ hãng phim nào. Nhiều bộ phim của Disney thu hàng chục triệu đô la. Chỉ một bộ phim Finding Nemo (Đi tìm Nemo) năm 2003 đã thu về 300 triệu đô la ở thị trường nội địa. Chỉ riêng chú chuột Mickey và vịt Donald đã thu về 11 triệu đô la. Những bộ phim nổi tiếng của Disney từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai như: Little Mermaid (Nàng tiên cá), Alladin (Aladin và cây đèn thần), Hercules (Dũng sĩ Hecquin), Beauty and Beast (Người đẹp và quái vật), The Lion King (Vua sư tử), Toy Story (Chuyện đồ chơi), Canderella (1950), Lady and Tramp (1955), Sleeping Beauty (Người đẹp ngủ trong rừng 1959), Toot, Whistle, Plamk and Boom (1953), Noah’s ark (1959), Story of Robin Hood (Chuyện kể về Robin Hoot, 1960), Pollyanna (1960)… càng thu hút đông đảo người xem trên toàn thế giới. Theo NBC, khi kênh truyền hình này giới thiệu về hãng phim Walt Disney ngày 29 – 10 – 1971 đã có 52 triệu khán giả theo dõi trong thời gian 90 phút. Hãng truyền hình danh tiếng ABC đã có hợp đồng phát về hãng phim Disney trong 7 năm liên tục. Chương trình Wonderful world of Disney (Thế giới thần tiên của Disney) luôn luôn đứng đầu bảng trong “top twenty” (nhóm 20 chương trình phát trên truyền hình).

2. Phim truyền hình

Phim truyền hình Mỹ được khấu hao vốn bởi thị trường nước Mỹ nên khi thâm nhập vào thị trường các nước khác với giá rẻ càng làm cho phim truyền hình các nước khác thêm khó khăn và phải nhường chỗ cho phim Mỹ. Có được kết quả quan trọng nhất là nhờ truyền thông và quảng cáo. Phương tiện truyền thông Mỹ tăng không ngừng. Nếu năm 1982 có 440 triệu chiếc radio – Nhà nước không kiểm soát chương trình và nội dung. 98% gia đình Mỹ có vô tuyến truyền hình. Có 6.603 đài phát thanh và 727 đài truyền hình, phát bằng 54 thứ tiếng ngoài tiếng Anh. Hơn 62 triệu ấn bản báo chí, báo ra chủ nhật là 56 triệu bản. 1.771 tờ báo ngày. 6.855 báo tuần và giữa tuần. 220 tờ báo in bằng tiếng nước ngoài với 34 ngôn ngữ khác nhau. Tờ Time và News phát hành 7,5 triệu bản mỗi tuần và Reader’s Digest phát hành 18 triệu bản.

Sau 10 năm (tính từ 1982) Mỹ đã tăng lên 11.500 đài phát thanh trong đó có hơn 10.000 đài hoạt động thương mại, quảng cáo (trừ 1.600 đài phi quảng cáo, chỉ phát thanh công cộng hay giáo dục, chủ yếu của các trường đại học và các nhóm tôn giáo); 1.500 đài truyền hình (trừ 350 đài truyền hình phi thương mại) còn tất cả đều quảng cáo điện ảnh. Từ năm 1994 các phương tiện này không ngừng phát triển. Đài phát thanh: 11.701, trong đó đài thương mại là 1.708 (sóng FM). Đài truyền hình: 1.520, trong đó đài thương mại là 559 (VHF) và 598 (UHF) (4). Số lượng báo và tạp chí cũng tăng vọt.  Năm 1994 con số báo chí (có thông tin, quảng cáo và tuyên truyền cho điện ảnh): 1.556 tờ báo ngày (lượng phát hành trung bình 59.811.594). 623 tờ báo buổi sáng  (lượng phát hành 43. 093.866). 954 tờ báo buổi chiều  (lượng phát hành 16.717.737). 884 tờ báo chủ nhật  (lượng phát hành 62.565.574  (5).

Những con số kinh khủng! Và vì sao điện ảnh Mỹ lại thống trị đời sống văn hóa thế giới. Năm 1965 Mỹ phóng vệ tinh Farly Bird lên không trung, cả châu Âu đều thu được các chương trình truyền thông của Mỹ. Sau đó là vệ tinh liên lục địa và chương trình viễn thông quốc tế INTELSAT. Năm 1984 đã có 108 nước tham gia (6).

Thực tế phim Mỹ không chỉ có những bộ phim hay, đậm chất nhân văn và văn hóa mà còn có cả những bộ phim bạo lực, kích động tình dục và cả phản văn hóa. Trong đó có game là một tai họa cho xã hội. Từ những năm 80 của thế kỷ XX, Mỹ đã sản xuất nhiều bộ phim hạng B đặt thương mại lên trên hết (như trên đã nói để bản kèm trong khoản BlockBooking, để tuyên truyền lối sống Mỹ…). Năm 1990, một cuộc thăm dò dư luận cho biết 82% ý kiến được hỏi cho hay màn ảnh nhỏ và màn ảnh rộng của Mỹ có quá nhiều bạo lực. 62% ý kiến cho rằng đã ảnh hưởng đến giáo dục. Riêng Los Angeles - quê hương của Hollywood năm 1992 đã có 1.000 người bị bắn chết. Trong đó ở các trường đại học chiếm nhiều vụ. 40 năm qua tội phạm ở tuổi thành niên của Mỹ tăng 3.000 lần. Mỗi tối vô tuyến truyền hình Mỹ chiếu 50 vụ tội ác, 12 vụ giết người, 20 vụ cướp bóc có vũ khí, hãm hiếp. Nếu tính trung bình một học sinh Mỹ xem phim 26 giờ/tuần thì khi trở thành công dân, 18 tuổi đã xem đến 4 vạn vụ bạo lực, giết người. Nếu kể cả nhiều nước trên thế giới - có chiếu phim Mỹ thì con số còn kinh sợ hơn nhiều.

Hiệp hội các nhà phân phối truyền hình thừa nhận Mỹ kiểm soát trên 60% sản phẩm truyền hình trên thế giới, hàng năm thu về 40 tỷ đô la doanh thu. Chỉ tính ở nước Anh, có hơn 90% phim truyện được chiếu trên màn ảnh nhỏ là của Mỹ hoặc có Mỹ tham gia sản xuất (7)./.

L.Đ.C

(Tạp chí Văn hóa học, số 4 - 2012)

1. The Advanced Learner’s Dictionany of Current English by Horney, E.V.Gatenby. London, Oxford University Press, 1948.

2. Mỹ, Âu, Nhật văn hóa và phát triển, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003, tr. 191.

3. Lê Thế Quế,  Đặc trưng văn hoá Mỹ, Đề tài khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006, tr. 137.

4. Niên giám phát thanh truyền hình và cáp 1995.

4. Niên giám thế giới về xuất bản và biên tập 1994.

5. This is America, United State Information Agency, pp.37-41

6. Theo The United State of Television, Final Times July 21, pp. 200.




Tạp chí liên quan

Tạp chí Văn hóa học

Năm phat hanh: 2012
Sách giấy: Liên hệ
Ebook: Liên hệ
Xem chi tiết

Bình luận