NHỮNG TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
GIỮA MÚA KHƠ ME NAM BỘ VỚI MÚA CAMPUCHIA
Lê Ngọc Canh
PGS.TS.NSND. Viện Nghiên cứu Văn hóa - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
|
C |
ó thể thấy những tương đồng và khác biệt, những hữu biến và bất biến trong văn hóa nói chung, nghệ thuật múa nói riêng của cộng đồng người có chung cội nguồn rồi sau đó lại chia tách, di cư tộc người gần như là quy luật phổ biến. Trong quá trình ấy mỗi tộc người thường mang theo phong tục, tập quán, lễ nghi, trang phục, văn hóa, nghệ thuật của dân tộc mình đến vùng đất mới. Và ở đây, từ cội nguồn bản sắc văn hóa dân tộc, họ sáng tạo nên những giá trị văn hóa nghệ thuật mới trên cơ sở thích nghi với điều kiện môi trường sinh tụ mới. Đó chính là cơ sở của quy luật tương đồng và khác biệt, hữu biến và bất biến trong văn hóa nói chung, nghệ thuật múa nói riêng. Nghệ thuật múa Khơ Me Nam Bộ và nghệ thuật múa Campuchia cũng không nằm ngoài quy luật này. Bởi người Khơ Me Nam Bộ và Khơ Me Campuchia vốn có chung một cội nguồn tộc người rất lâu đời, rồi trải qua thiên biến của lịch sử thành tộc người của hai quốc gia. Cùng với sự biến đổi ấy, nền văn hóa nghệ thuật của mỗi tộc người sẽ diễn ra theo quy luật tương đồng và khác biệt, trên cơ sở văn hóa bản địa hoặc bản địa hóa, tùy theo mức độ sáng tạo, phát triển khác nhau của từng tộc người ở những không gian địa lý cụ thể.
Để có thể hiểu rõ hơn vấn đề này, chúng tôi sẽ khảo cứu những tương đồng và khác biệt, những hữu biến và bất biến của múa Khơ Me Nam Bộ với múa Campuchia qua một số điệu múa cụ thể.
Khảo cứu 1: (múa) Rom Vông
Tương đồng
Rom Vông là múa quảng đại quần chúng, có nguồn gốc từ Lào, gọi là Lâm Vông, được bản địa hóa. Cả người Khơ Me Nam Bộ và người Campuchia đều gọi điệu múa này là Rom Vông.
Rom Vông có tính chất khoan thai nhẹ nhàng, múa đôi nam nữ đông người hoặc ít người, thường múa trên thuyền vòng tròn. Có thể múa nhanh, chậm là phụ thuộc vào âm nhạc, điệu dân ca, vừa múa vừa hát.
Động tác múa là bước chân ba bước tiến, một bước lui. Động tác tay là hai bàn tay guộn đuổi nhau ở hướng trước ngực. Động tác nam cũng guộn đuổi nhau, nhưng mở rộng sang hai bên, như bao vờn với nữ, vòng quanh nữ. Đôi khi nam nữ đối diện múa rồi lại đi lượn múa quây quần bên nhau, đi trên tuyến vòng tròn.
Khác biệt
Rom Vông Khơ Me Nam Bộ
Điều khác biệt quan trọng là Rom Vông Khơ Me Nam Bộ có yếu tố tự do, ngẫu hứng, theo cảm xúc thẩm mĩ và cảm xúc âm nhạc của người múa. Họ sáng tạo dựa trên cơ sở tổ hợp động tác múa cơ bản Rom Vông, nên hạn chế tính quy cách như Rom Vông Campuchia.
Rom Vông Khơ Me Nam Bộ do có yếu tố tự do, ngẫu hứng, nên trong điệu Rom Vông người múa còn sử dụng chất liệu Lâm Liêu và Xaravan, tạo ra sự phong phú sinh động cho Rom Vông. Cùng với múa là sự biến đổi của nhạc đệm. Khi tiết tấu vừa phải, tiết tấu nhanh, linh hoạt, vui nhộn tạo cho sự thể hiện tâm hồn, tính cách của người Khơ Me Nam Bộ là hồ hởi, cởi mở, vui nhộn, hóm hỉnh, nên họ cũng vui múa hết mình.
Những điều đó đã tạo nên tính cách riêng biệt của múa Khơ Me, mang dấu ấn văn hóa bản địa, văn hóa dân tộc.
Rom Vông Campuchia
Rom Vông Campuchia cũng có yếu tố tự do, nhưng chủ yếu ở lớp thanh niên, còn phổ biến người Campuchia múa theo bài bản có quy tắc nhất định. Ví dụ, khi bắt đầu múa thì bao giờ cũng bước chân trái trước, rồi bước chân phải, cứ như vậy chuyển động liên hoàn trong múa. Hoặc khi múa thì một tay đưa lên, một tay hạ xuống, đuổi nhau, một bàn tay ngửa thì một bàn tay sấp, nữ thì luôn múa uốn guộn cổ tay phía trước ngực... Múa thiên về lịch sự, nhã nhặn, khoan thai, cung kính giao lưu. Những người múa thì không hát, hát nhạc do dàn nhạc thực hiện.
Khảo cứu 2: Múa Xarikakeo (chim sáo)
Tương đồng
Xarikakeo là điệu múa đôi nam nữ, nhiều đôi múa trên tuyến vòng tròn, khi có nhạc cụ, có điều kiện là họ tham gia múa. Đây là một điệu múa đặc sắc, được nhiều người yêu thích, đặc trưng văn hóa của người Khơ Me. Nhạc múa đều chung bài hát Xarikakeo (chim sáo). Múa trong nhiều không gian khác nhau, không gian cơ động.
Khác biệt
Múa Xarikakeo Khơ Me
Xarikakeo là một điệu múa đặc sắc được người Khơ Me rất ưa thích, nhất là giới trẻ bởi điệu múa này có tính cách vui nhộn, sinh động, phóng khoáng, gần gũi với tình cảm tuổi trẻ.
Động tác cơ bản là hai tay guộn cổ tay đưa rộng sang hai bên, để xuôi, chếch sang hai bên và nhích vai liên tục. Chân bước nhanh bước lên phía trước, hơi khuỵu và vừa bước vừa nhảy co, hất chân ra phía sau. Kết hợp với động tác tay, chân, là người ngả nghiêng sang phải, trái, kết hợp với động tác lắc mông rất tinh nghịch, đôi khi vừa múa vừa hò, hét.
Múa Khơ Me Nam Bộ phóng khoáng, linh hoạt, sôi động, theo tình cảm, tính cách vốn có của người Khơ Me.
Múa Xarikakeo Campuchia
Múa Xarikakeo Campuchia theo quy cách, bài bản, nghiêm cách với tổ hợp múa cơ bản, giữ được nét tương đồng là chất liệu gốc của múa.
Khảo cứu 3: Múa Gáo dừa (Tro Lôk)
Tương đồng
Ở Campuchia cũng như ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam, đều có những hàng dừa xanh thẳm khắp quê hương xứ sở, phum sóc, đây là một hình ảnh, hình tượng đặc trưng thân thương của người Khơ Me vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như người Campuchia. Dừa đem lại nhiều lợi ích cho con người, gắn bó với con người trong cả đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Chính vì vậy người Khơ Me đã sáng tạo ra điệu múa Gáo dừa, vỏ quả dừa khô thành đạo cụ múa và cũng là tên của điệu múa.
Múa Gáo dừa là một trong những điệu múa dân gian hay, đặc sắc của người Khơ Me, được quảng đại quần chúng yêu thích, thường diễn ra trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Gáo dừa là công cụ, phương tiện để trình diễn nghệ thuật múa, là cái cớ để trai gái Khơ Me giao lưu, giao duyên, gặp gỡ.
Đây là điệu múa tập thể nam nữ, vui tươi, giao duyên với đạo cụ là gáo dừa, gáo dừa của nam gõ vào gáo dừa của nữ, nhịp gõ của gáo dừa như nhịp điệu, như tín hiệu giao duyên. Gõ gáo dừa có nhiều dạng, nhiều kiểu khác nhau, khi đi, khi đứng, khi ngồi mà tiếng gõ không ngắt. Nhịp gõ của gáo dừa đồng thời cũng là tiết tấu, nhịp điệu của múa.
Khác biệt
Múa Gáo dừa Khơ Me Nam Bộ
Múa Gáo dừa Khơ Me là một điệu múa có những nét đặc trưng riêng biệt, vui nhộn, sôi động, duyên dáng rất phù hợp với tâm hồn, tính cách của người Khơ Me Nam Bộ, được nhiều người yêu thích, nên rất phổ biến ở cộng đồng người Khơ Me vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Điệu múa có tốc độ, tiết tấu vui linh hoạt, nhanh dần, nhanh dần lên cao trào. Đội hình, động tác có nhiều biến đổi, động tác gõ gáo dừa giữa nam và nữ có nhiều tạo dáng, tạo hình, khi đi, đứng, ngồi, xoay, vặn người gõ gáo. Tính chất múa thiên về vui nhộn, hóm hỉnh, tinh nghịch, như đùa ghẹo giữa nam và nữ. Thường là múa hai nam hai nữ, nhưng không cố định nên cũng có khi sáu, tám, mười, mười hai người múa. Múa này thường do thanh niên, thiếu niên trình diễn.
Múa Gáo dừa Campuchia
Múa Gáo dừa Campuchia chủ yếu dành cho nam nữ thanh niên, thiên về múa giao duyên, thể hiện tình cảm của nam nữ với nhau. Nhịp gõ của gáo dừa giữa nam và nữ như tín hiệu của tình yêu, tín hiệu của trái tim, khoe tài, khoe sắc. Múa với tốc độ vừa phải.
Múa Gáo dừa Campuchia phổ biến chủ yếu ở tỉnh Xoài Riêng, một phần ở tỉnh TaKeo và Kampôt. Điệu múa này thường được trình diễn trong đám cưới cổ truyền của người Campuchia.
Khảo sát 4: Múa trống Xayam
Tương đồng
Người Khơ Me Nam Bộ cũng như người Khơ Me Campuchia đều có múa trống Xayam, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Trống Xayam được cấu tạo từ chất liệu gỗ và da, có hình thù gần như chân voi, mặt trống bịt da khoảng 30cm đến 35cm, phần đuôi trống có đường kính khoảng 20cm đến 25cm, không bịt da, phần thân trống thon nhỏ dần dài khoảng 70cm đến 80cm có dây đeo, đến phần trống không bịt da loe.
Đây là điệu múa dành cho nam, tính chất múa vui, khỏe, kĩ thuật, kĩ xảo, nhiều cách đánh trống, nhiều tổ hợp múa phức tạp, biến hóa nhiều dạng, nhiều kiểu.
Khác biệt
Múa Khơ Me Nam Bộ
Múa trống Xayam Khơ Me rất phóng khoáng, vui tươi, sinh động, hấp dẫn thể hiện đậm nét đặc trưng, tâm hồn, tính cách múa Khơ Me. Múa trống Xayam là một điệu múa hay, độc đáo, trình diễn trong mọi lĩnh vực sinh hoạt văn hóa, tôn giáo văn hóa cộng đồng của người Khơ Me vùng đồng bằng sông Cửu Long, được mọi người yêu thích.
Múa trống Xayam Khơ Me có nhiều yếu tố ngẫu hứng, kĩ thuật, kĩ xảo, yếu tố tạp kĩ rất độc đáo. Thế múa rất linh hoạt, luôn biến đổi: múa đi, đứng, quỳ, uốn, lượn ngả người, xoay người, lăn người. Vừa múa vừa đánh trống rất nhiều dạng, nhiều kiểu. Múa đánh trống bằng bàn tay, nắm tay, khuỷu tay, gót chân, đầu gối, ngậm trống dựng đứng để múa. Một đặc điểm quan trọng là người múa luôn khuỵu chân, nhích vai, đầu đưa ra phía trước. Tất cả tạo ra tâm hồn, tính cách múa Khơ Me Nam Bộ.
Múa Khơ Me Campuchia
Theo nhiều nguồn tư liệu, nhiều nhà nghiên cứu thì múa trống Xayam có nguồn gốc từ Campuchia, thời Ăngcovát: “Trước lúc ra trận chống quân xâm lược, người ta múa trống Xayam để kích thích chí khí chiến đấu, lòng dũng cảm của tướng sĩ. Họ múa trống Xayam đi đầu những đám rước, có tính chất tôn giáo, trước những tín đồ, trước khi vào chùa. Thường là họ múa ba vòng xung quanh chùa” (1).
Múa trống Xayam Campuchia là múa có yếu tố tôn giáo cổ vũ, động viên binh sĩ, có từ thời xa xưa. Nhưng những thời kì sau này múa đã hiện diện trong nhiều lĩnh vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng người Khơ Me Campuchia.
Như vậy, múa trống Xayam đã có những tương đồng và khác biệt, có hữu biến và bất biến trong quá trình giao lưu, giao thoa văn hóa nghệ thuật.
Khảo cứu 5: Múa cổ Rô Băm
Tương đồng
- Tính quy ước
Múa cổ điển Khơ Me Nam Bộ và múa cổ điển Campuchia có những nét tương đồng về nhiều lĩnh vực khá đậm nét. Đó là tính quy ước cao, các tư thế, các tạo hình, các động tác chuyển động đều có quy ước, ý nghĩa nhất định, điều này được thể hiện qua các thế tay.
Ví dụ:
Thế tay Chíp : muốn nói, muốn tả, hái hoa...
Thế tay Khuông : ca ngợi, sức mạnh, tạm biệt...
Thế tay Chằng Ol : muốn chỉ, muốn nói điều gì đó...
Thế tay Lir : e thẹn, ngượng ngùng...
Thế tay Pcar : liên kết, gắn bó...
Những quy ước, ý nghĩa này họ đều thấu hiểu, không cần giải thích, đã thấm sâu trong ý thức, tâm niệm của con người.
Tính quy ước thống nhất đồng bộ trong múa, nhạc, trang phục, mặt nạ.
- Múa miêu tả tích, truyện
Múa cổ Rô Băm, múa cổ điển Campuchia thường diễn theo tích, truyện, truyền thuyết có cốt truyện, có nhân vật, thiện (chính diện), ác (phản diện). Trong sự diễn tả cốt truyện thì múa có vai trò quan trọng nên người ta còn gọi là kịch múa cổ điển.
- Múa kĩ thuật cao
Múa cổ điển Rô Băm, múa cổ điển Campuchia có tính kĩ thuật, kĩ xảo cao, có tính nghệ thuật chuyên nghiệp, đòi hỏi phải công phu rèn luyện mới có khả năng thể hiện được nội dung của cốt truyện.
Khác biệt
Múa cổ Rô Băm Khơ Me Nam Bộ
Xuất phát từ tâm hồn, tính cách, tư duy, quan niệm thẩm mĩ và môi trường sinh tụ của người Khơ Me đồng bằng sông Cửu Long mà múa cổ Rô Băm có những nét riêng biệt.
- Tính quy
ước
chỉ là tương đối bởi tính cách của người Khơ Me Nam Bộ là phóng khoáng, thoải
mái, vui nhộn, gần gũi với đời thường, với văn hóa dân gian dân dã. Nên múa cổ
cũng hữu biến và chịu sự chi phối của tính cách. Múa cổ Rô Băm có sự kết hợp
với phong cách, chất liệu múa dân gian, xem múa cổ Rô Băm người thưởng thức vẫn
nhận biết đó là múa cổ điển Khơ Me Nam Bộ, mà vẫn có yếu tố múa dân gian, phong
cách dân gian. Tuy nhiên, những nguyên tắc, ý nghĩa của các thế múa, dáng múa,
tổ hợp múa, nhân vật vẫn được bảo tồn và phát huy, phù hợp với tính cách thẩm
mĩ của người Khơ Me. Nói cách khác múa cổ Rô Băm Khơ Me Nam Bộ có nguồn gốc từ
Ấn Độ, từ Ấn Độ đến Campuchia rồi đến với người Khơ Me Nam Bộ là cả một hành
trình sáng tạo, biến đổi, với sắc thái đặc trưng khác nhau. Cụ thể là múa cổ Rô
Băm Khơ Me Nam Bộ đã có sự sáng tạo biến đổi mạnh mẽ, gần với dân gian, gần với
đời thường. Tức là múa cổ Rô Băm Khơ Me Nam Bộ đã được bản địa hóa, dân tộc
hóa, để hàm chứa bản sắc văn hóa Khơ Me Nam Bộ.
- Một sự khác biệt khác là người Khơ Me Nam Bộ đã phát huy múa loại nhân vật ác (phản diện) là hệ thống loại nhân vật Chằng (Yak), với các loại múa mặt nạ và hệ thống múa có tính cách đặc sắc. Cũng là múa khỉ Hanuman, nhưng múa khỉ Hanuman của người Khơ Me Nam Bộ khá đậm nét thẩm mĩ, động tác múa mang đậm sắc thái, dấu ấn văn hóa múa Khơ Me.
- Múa cổ Rô Băm Khơ Me Nam Bộ giảm bớt sự quy cách, gò bó nghiêm luật của múa cổ điển Ấn Độ, Campuchia, thiên về phóng khoáng, cởi mở, biến đổi, tạo ra sự gần gũi, đồng cảm giữa người diễn và người xem. Ngoài những vở diễn kinh điển, thì nội dung vở diễn phát triển từ tích, truyện dân gian nên được nhân dân rất ưa thích.
- Tổ chức trình diễn múa cổ Rô Băm: Có thể nói các tỉnh, huyện và nhiều phum sóc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đồng bào Khơ Me sinh sống, đều có đội trình diễn sân khấu Rô Băm do quần chúng nhân dân tự tổ chức. Từ khi đất nước giải phóng, đã hình thành các đoàn chuyên nghiệp trình diễn sân khấu Rô Băm, như đoàn nghệ thuật dân tộc Khơ Me tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, An Giang...
Múa cổ điển Campuchia
- Tính quy chuẩn của múa cổ điển Campuchia rất nghiêm luật, có bài bản, tính chuyên nghiệp cao, diễn viên được tuyển chọn, đào tạo từ bé (khoảng 7, 8 tuổi), phần lớn là nữ. Để trở thành vũ nữ tài giỏi các bé gái phải rất khổ luyện, trong thời gian dài, dưới sự hướng dẫn của những giáo viên chuyên nghiệp. Múa cổ điển chủ yếu phục vụ cho sinh hoạt văn hóa cung đình, nên còn gọi là kịch múa cổ điển hoàng cung, hay là múa cung đình Campuchia. Mọi chi phí đào tạo diễn viên/vũ nữ đều do nhà vua đài thọ và họ trở thành nghệ sĩ của vũ đoàn hoàng cung, sân khấu kịch múa hoàng cung.
Ở Campuchia có nhiều loại hình sân khấu, như sân khấu Sơnlậpậ Chomrók (tạp kĩ), sân khấu Mohori (múa, ca, kịch câm), sân khấu Yikê (múa dân gian), trong đó kịch múa cổ điển hoàng cung là đỉnh cao chuyên nghiệp, tính quy chuẩn chặt chẽ.
- Nội dung phản ánh của kịch múa cổ điển hoàng cung Campuchia là ca ngợi vương triều, vua quan, hoàng tử, công chúa, hướng thiện, trừ ác, phò vua. Ngoài ra, kịch múa cổ điển Campuchia còn diễn các tích, truyện, truyền thuyết, thần thoại trong di sản văn hóa dân tộc, mang sắc thái văn hóa truyền thống dân tộc. Tuy kịch múa cổ điển Campuchia có nguồn gốc từ Ấn Độ, nhưng với tài năng sáng tạo của người Campuchia đã được bản địa hóa, dân tộc hóa, trở thành múa truyền thống của Campuchia.
- Múa cổ điển Campuchia gắn bó với đất nước Phật giáo, gắn bó với đất nước chùa tháp nổi tiếng thế giới. Bởi vậy trong kiến trúc chùa tháp Campuchia bao giờ cũng có những pho tượng, những bức tranh về nghệ thuật múa cổ điển được chạm khắc, vẽ với nhiều chất liệu đá, đồng, vàng. Những kiến trúc, điêu khắc phù điêu về múa cổ điển Campuchia là tuyệt tác, rất đồ sộ, công phu, lộng lẫy, đầy ấn tượng. Đến với đất nước chùa tháp là đến với hệ thống tượng kịch múa cổ điển hoàng cung.
*
* *
Qua những khảo cứu trên, dẫn tới việc quy nạp những tương đồng và khác biệt múa Khơ Me vùng Nam Bộ với múa Campuchia, được thể hiện ở những bản so sánh, đối chiếu sau:
1. Múa Rom Vông
|
Tương đồng |
||
|
STT |
Người Khơ Me Nam Bộ |
Người Camphuchia |
|
1 |
Cùng cội nguồn dân tộc |
Cùng cội nguồn dân tộc |
|
2 |
Tên gọi Rom Vông |
Tên gọi Rom Vông |
|
3 |
Múa đôi nam nữ |
Múa đôi nam nữ |
|
4 |
Múa quảng đại quần chúng |
Múa quảng đại quần chúng |
|
Khác biệt |
||
|
1 |
Ngẫu hứng, phóng khoáng |
Quy tắc, ổn định |
|
2 |
Sôi nổi, vui hoạt |
Khoan thai, nhẹ nhàng |
|
3 |
Rom Vông, Lăm Lêu, Xaravan |
Rom Vông nguyên bản |
2. Múa Xarikakeo
|
Tương đồng |
||
|
STT |
Người Khơ Me Nam Bộ |
Người Campuchia |
|
1 |
Tên gọi Xarikakeo |
Tên gọi Xarikakeo |
|
2 |
Múa tuyến vòng tròn |
Múa tuyến vòng tròn |
|
3 |
Múa guộn, uốn cổ tay |
Múa guộn, uốn cổ tay |
|
4 |
Múa theo bài Xarikakeo |
Múa theo bài Xarikakeo |
|
Khác biệt |
||
|
1 |
Linh hoạt, tính cách |
Quy cách, bài bản |
3. Múa gáo dừa (Tro Lôk)
|
Tương đồng |
||
|
STT |
Người Khơ Me Nam Bộ |
Người Campuchia |
|
1 |
Tên gọi gáo dừa |
Tên gọi gáo dừa |
|
2 |
Múa tập thể nam nữ |
Múa tập thể nam nữ |
|
3 |
Múa gõ gáo dừa |
Múa gõ gáo dừa |
|
4 |
Múa đạo cụ gáo dừa |
Múa đạo cụ gáo dừa |
|
Khác biệt |
||
|
1 |
Vui nhộn, hóm hỉnh |
Trữ tình, giao duyên |
|
2 |
Phổ biến toàn cộng đồng |
Chủ yếu ở tỉnh Xoài Riêng, Takeo |
|
3 |
Diễn trong mọi hoàn cảnh |
Chủ yếu diễn trong đám cưới |
4. Múa trống Xayam
|
Tương đồng |
||
|
STT |
Người Khơ Me Nam Bộ |
Người Campuchia |
|
1 |
Múa tập thể nam |
Múa tập thể nam |
|
2 |
Múa đạo cụ trống Xayam |
Múa đạo cụ trống Xayam |
|
3 |
Vui nhộn |
Vui nhộn |
|
4 |
Kĩ thuật |
Kĩ thuật |
|
Khác biệt |
||
|
1 |
Ngẫu hứng tinh nghịch |
Mạnh khỏe, khí thế |
|
2 |
Tính cách đặc trưng |
Quy cách, bài bản |
|
3 |
Biến hóa nhiều kiểu |
Ít biến hóa |
|
4 |
Diễn trong mọi hoàn cảnh |
Diễn múa cổ vũ tướng sĩ |
5. Múa cổ Rô Băm
|
Tương đồng |
||
|
STT |
Người Khơ Me Nam Bộ |
Người Campuchia |
|
1 |
Nguồn gốc Ấn Độ |
Nguồn gốc Ấn Độ |
|
2 |
Loại múa cổ điển |
Loại múa cổ điển |
|
3 |
Ước lệ đồng bộ |
Ước lệ đồng bộ |
|
4 |
Đồng nhất thế cơ bản |
Đồng nhất thế cơ bản |
|
5 |
Tính quy chuẩn |
Tính quy chuẩn |
|
6 |
Kĩ thuật cao |
Kĩ thuật cao |
|
Khác biệt |
||
|
1 |
Tên gọi múa cổ Rô Băm |
Tên gọi kịch múa cổ điển hoàng cung |
|
2 |
Quy chuẩn mở rộng |
Quy chuẩn nghiêm luật |
|
3 |
Nghệ thuật kịch múa |
Nghệ thuật chuyên nghiệp |
|
4 |
Dân gian hóa, bản địa hóa |
Đào tạo bài bản múa cổ điển |
|
5 |
Tích, truyện dân gian |
Tích, truyện về triều đình |
|
6 |
Hình múa trong kiến trúc |
Hệ thống tượng múa chùa tháp Phật giáo |
|
7 |
Thế múa đơn nghĩa |
Thế múa đa nghĩa |
|
8 |
Dân gian hóa trình diễn |
Trình diễn ở cung đình |
Từ những khảo cứu và so sánh, đối chiếu trên có thể rút ra nét khác biệt, nổi trội của nghệ thuật múa truyền thống Khơ Me vùng Nam Bộ được quy tụ thành những điểm sau:
- Thể hiện tâm hồn, tính cách dân tộc
Bất cứ ai đã một đôi lần được thưởng thức người Khơ Me trình diễn nghệ thuật múa, đều có thể nhận biết đây là một dân tộc có tâm hồn cởi mở, vui tươi, hóm hỉnh, sôi nổi và có những dáng múa, động tác múa rất có tính cách. Tính cách này khác biệt với nhiều dân tộc trong vùng. Nó gần gũi, thân thương rất ấn tượng, bởi tâm hồn, tính cách trong múa rất đặc sắc, mang bản chất thẩm mĩ văn hóa Khơ Me, như múa trống Xayam, gáo dừa, Xarikakeo, cắt tóc...
- Ngẫu hứng sáng tạo
Người Khơ Me Nam Bộ có nhiều hình thái múa, với nhiều điệu múa, loại múa, với điệu múa nào họ cũng đều hào hứng, say sưa. Trên cơ sở những động tác của từng điệu múa, họ ngẫu hứng sáng tạo trong quá trình tham gia múa. Có thể nói là múa Khơ Me Nam Bộ có yếu tố tự do, ngẫu hứng, sáng tạo theo cảm xúc thẩm mĩ, cảm xúc âm nhạc. Nhưng tổng thể vẫn là múa Khơ Me Nam Bộ, tính cách múa Khơ Me Nam Bộ.
- Không gian trình diễn mở
Với người Khơ Me Nam Bộ nghệ thuật múa hát đã thấm sâu trong tâm hồn, tình cảm, trong đời sống văn hóa của toàn cộng đồng. Có tiếng nhạc, có tiếng hát là có múa, múa trong mọi hoàn cảnh, mọi môi trường, không gian trình diễn múa của người Khơ Me Nam Bộ, không cố định, là không gian trình diễn mở.
- Bản sắc văn hóa dân tộc
Trên cơ sở môi trường sinh tụ và năng lực, trí tuệ, dư tuy thẩm mĩ của mình, người Khơ Me Nam Bộ đã tạo dựng được nền nghệ thuật múa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc, độc đáo. Bản sắc văn hóa ấy thể hiện đậm đặc trong hình thái múa dân gian, múa tín ngưỡng, múa tôn giáo và múa cổ Rô Băm. Đặc biệt là hệ thống múa trong tục cưới, tang và tín ngưỡng thờ thần Arak Neakta, múa Phật giáo.
Bản địa hóa
Những loại múa, những điệu múa có nguồn gốc từ Ấn Độ, Campuchia đã được người Khơ Me tiếp nhận và sáng tạo thành nghệ thuật múa Khơ Me Nam Bộ, được bản địa hóa cho phù hợp với tâm hồn, tính cách, tư duy cấu trúc, kết cấu động tác luật động theo quan niệm thẩm mĩ nghệ thuật của người Khơ Me. Mọi hình thái múa được dân gian hóa, gắn bó với đời sống văn hóa cộng đồng, mang đậm dấu ấn, đặc trưng văn hóa múa Khơ Me Nam Bộ./.
L.N.C
_________________________________________
1. Nguyễn Đình Phúc: Vài nét về văn nghệ truyền thống Campuchia (ca - múa - nhạc). Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1981, tr. 73.
2. Những ảnh múa Campuchia trích từ bài Múa cổ điển Campuchia. Tác giả Charles Meyer, trong tạp chí Nokor Khmer, xuất bản năm 1970.
Tài liệu tham khảo
Lê Bá Thảo (1986): Địa lí đồng bằng sông Cửu Long. Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, Đồng Tháp.
Lê Ngọc Canh (1999): Văn hóa dân gian những thành tố. Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
Lê Ngọc Canh (1998): Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Lương Hồng Quang (1997): Văn hóa cộng đồng vùng đồng bằng sông Cửu Long thập kỉ 80, 90. Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
Trường Lưu (chủ biên) (1997): Văn hóa người Khơ Me vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Mạc Đường (1991): Vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long. Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Sorya (1998): Lễ hội Khơ Me Nam Bộ. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Trần Văn Bổn (1999): Một số lễ tục dân gian người Khơ Me đồng bằng sông Cửu Long. Nxb. Văn hóa dân tộc.
Lâm Tô Lộc (1994): Nghệ thuật múa dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam. Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Nhiều tác giả (1984): Mấy đặc điểm văn hóa đồng bằng sông Cửu Long. Viện Văn hóa dân gian xuất bản, Hà Nội.
Nhiều tác giả (1988): Tìm hiểu vốn văn hóa dân tộc Khơ Me Nam Bộ. Nxb. Tổng hợp Hậu Giang, Cần Thơ.
Nhiều tác giả (1998): Về sân khấu truyền thống Khơ Me Nam Bộ. Sở Văn hóa Thông tin Sóc Trăng, Phân viện Văn hóa Nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh xuất bản.
Cao Xuân Phổ (1981): Tìm hiểu tiến trình nghệ thuật Đông Nam Á, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 3.
Lê Hương (1974): Sử liệu Phù Nam. Nxb. Sài Gòn.
Phan Ngọc Liên (1998): Lược sử Đông Nam Á. Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Nguyễn Đình Phúc (1981): Vài nét về văn nghệ truyền thống Campuchia. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Cambodian (1970): Dances, By Charles Meyer (bản dịch).
Bình luận
Bài viết cùng chuyên mục