VỀ NHẬN THỨC DU LỊCH CỦA KHÁCH DU LỊCH
VÀ CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ ĐỊA PHƯƠNG
TẠI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH THUỘC ĐỊA BÀN
TỈNH LÀO CAI, ĐÀ NẴNG, TIỀN GIANG
PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Phương
TS. Nguyễn Cao Đức
1. Tổng quan hoạt động du lịch ở Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang
1.1. Khách du lịch đến Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang
- Khách du lịch quốc tế đến: Trong bối cảnh du lịch Việt Nam đạt được nhiều kết quả ấn tượng trong những năm vừa qua, hoạt động du lịch trên địa bàn các tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Tiền Giang cũng được đánh giá là đang gặt hái những trái ngọt về thành tích du lịch liên quan tới thu hút du khách quốc tế trong cùng thời kỳ. Cụ thể, quy mô du khách quốc tế đến Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang đã tăng gấp 1,9 lần chỉ trong vòng 5 năm qua (so với năm gốc 2013) và đạt mức 3,597 triệu lượt khách năm 2017, qua đó đóng một vai trò quan trọng trong việc khuyến khích thu hút du khách quốc tế đến Việt Nam (chiếm tỷ trọng bình quân năm 27,7% tổng du khách quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn 2013-2017). Đặc biệt, khách quốc tế đến thành phố Đà Nẵng không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng bình quân năm rất cao (30,1%/năm giai đoạn 2013-2017) mà quan trọng hơn là đang có chiều hướng tăng trong cùng thời kỳ. Kết quả này cho thấy thành phố Đà Nẵng hiện đang có những dấu hiệu tăng trưởng “nóng” về thu hút du khách quốc tế kể từ đầu thập kỷ 2010, qua đó cũng đưa ra một cảnh báo rằng bên cạnh những vận hội mới của ngành du lịch thì thành phố cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn liên quan tới rủi ro bảo đảm phát triển bền vững ngành hàng không (nhất là hạ tầng cảng hàng không quốc tế), và quy hoạch phát triển các cơ sở lưu trú phục vụ kinh doanh du lịch của mọi thành phần kinh tế, cũng như giải quyết tình trạng quá tải của cơ sở hạ tầng giao thông thành phố (Bảng 1).
- Khách du lịch nội địa: Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang hiện đang nổi lên như là những tỉnh/thành phố đạt được nhiều thành tích ấn tượng về hoạt động du lịch trong những năm gần đây. Nếu như năm 2013 tổng du khách nội của Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang chỉ đạt 3,774 triệu lượt khách (chiếm 10,8% du khách nội địa của cả nước) thì đến năm 2017 con số này đã tăng gấp 2,2 lần lên tới 8,225 triệu lượt khách (chiếm 11,2% du khách nội địa cả nước). Mặc dù Đà Nẵng giữ vị trí dẫn đầu về quy mô thu hút khách du lịch nội địa, nhưng Lào Cai mới thực sự là nơi dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng nhanh trong hấp dẫn du khách nội địa kể từ đầu thập kỷ 2010. Theo Cục Thống kê của Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang, tốc độ tăng trưởng bình quân năm về du khách nội địa của tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2012-2017 không chỉ đứng đầu nhóm mà còn đang ở mức rất cao (đạt 37,7%/năm trong cùng kỳ), kế tiếp là thành phố Đà Nẵng (16,3%), và cuối cùng là tỉnh Tiền Giang (12,8%). Điều này cũng có nghĩa rằng xu hướng mở rộng tương đối nhanh về quy mô du khách nội địa trên địa bàn của tỉnh Lào Cai hiện đang có những dấu hiệu của chiều hướng tăng trưởng “nóng” du lịch nội địa kể từ giữa thập kỷ 2010 trở lại đây. Kết quả này không chỉ đem lại những cơ hội mới cho phát triển kinh tế của tỉnh Lào Cai, mà nó còn đưa đến những thách thức không nhỏ cho sự phát triển cơ sở hạ tầng đường bộ và bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể ở Lào Cai (Bảng 1).
Bảng 1: Khách du lịch ở Lào Cai, Đà Nẵng, Tiền Giang(2012-2017)
|
|
2017 |
2016 |
2015 |
2014 |
2013 |
|
1. Khách du lịch nội địa |
|||||
|
- Quy mô của Việt Nam (triệu lượt) |
73,200 |
62,000 |
57,000 |
38,500 |
35,000 |
|
+ Lào Cai (nghìn lượt) |
2.804,6 |
2.019,0 |
1.373,0 |
924,8 |
708,2 |
|
+ Đà Nẵng (nghìn lượt) |
4.302,1 |
3.868,8 |
3.350,0 |
2.845,0 |
2.374,4 |
|
+ Tiền Giang (nghìn lượt) |
1.117,9 |
1.063,7 |
994,2 |
943,8 |
691,2 |
|
- Tăng trưởng của Việt Nam (%) |
18,1 |
8,8 |
48,1 |
10,0 |
7,7 |
|
+ Lào Cai |
38,9 |
47,1 |
48,5 |
30,6 |
23,6 |
|
+ Đà Nẵng |
11,2 |
15,5 |
17,8 |
19,8 |
17,0 |
|
+ Tiền Giang |
5,1 |
7,0 |
5,3 |
36,5 |
10,3 |
|
2. Khách quốc tế đến Việt Nam |
|||||
|
- Quy mô của Việt Nam (triệu lượt) |
12,922 |
10,013 |
7,944 |
7,874 |
7,572 |
|
+ Lào Cai (nghìn lượt) |
699,4 |
750,8 |
717,6 |
545,2 |
552,7 |
|
+ Đà Nẵng (nghìn lượt) |
2.331,9 |
1.678,0 |
1.250,0 |
955,0 |
743,2 |
|
+ Tiền Giang (nghìn lượt) |
566,1 |
527,6 |
484,4 |
482,4 |
586,7 |
|
- Tăng trưởng của Việt Nam (%) |
22,5 |
20,7 |
0,9 |
3,8 |
9,6 |
|
+ Lào Cai |
-6,8 |
4,6 |
31,6 |
-1,3 |
47,2 |
|
+ Đà Nẵng |
39,0 |
34,2 |
30,9 |
28,5 |
17,8 |
|
+ Tiền Giang |
7,3 |
8,9 |
0,4 |
-17,8 |
8,2 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp dữ liệu từ Tổng cục Du lịch (VNAT); Cục Thống kê Lào Cai; Cục Thống kê Đà Nẵng; và Cục Thống kê Tiền Giang trong giai đoạn 2013-2018.
1.2. Doanh thu từ du lịch trên địa bàn Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang
Nhờ có xu hướng tăng trưởng "nóng" về khách du lịch quốc tế đến thành phố Đà Nẵng, cũng như chiều hướng tăng trưởng "nóng" về du khách nội địa của tỉnh Lào Cai mà doanh thu từ du lịch của 3 tỉnh/thành phố này đều có xu hướng gia tăng về quy mô và tốc độ tăng trưởng (ngoại trừ tăng trưởng doanh thu từ du lịch của Đà Nẵng năm 2017). Với tốc độ tăng trưởng bình quân 38,8%; 22,4%;và 12,8%/năm giai đoạn 2013-2017, xu hướng tăng trưởng nhanh về doanh thu từ du lịch đang đóng một vai trò quan trọng không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng thu ngân sách trên địa bàn của cả 3 tỉnh/thành phố này, mà quan trọng hơn là còn giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo việc làm có năng suất. Bên cạnh đó, doanh thu du lịch lữ hành cũng góp phần tác động tích cực tới thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của cả 3 tỉnh/thành phố (Bảng 2).
Bảng 2:Doanh thu du lịch ở Lào Cai, Đà Nẵng, và Tiền Giang (2012-2017)
|
|
2017 |
2016 |
2015 |
2014 |
2013 |
|
a. Tổng doanh thu từ du lịch |
|||||
|
- Quy mô cả 3 tỉnh/thành (nghìn tỷ) |
34,337 |
28,693 |
21,702 |
16,835 |
13,793 |
|
+ Lào Cai |
9,443 |
6,406 |
4,675 |
3,276 |
2,548 |
|
+ Đà Nẵng |
19,504 |
17,524 |
12,768 |
9,740 |
7,784 |
|
+ Tiền Giang |
5,390 |
4,763 |
4,259 |
3,819 |
3,461 |
|
- Tăng trưởng của 3 tỉnh/thành (%) |
19,7 |
32,2 |
28,9 |
22,1 |
14,3 |
|
+ Lào Cai |
47,4 |
37,0 |
42,7 |
28,6 |
38,2 |
|
+ Đà Nẵng |
11,3 |
37,2 |
31,1 |
25,1 |
7,0 |
|
+ Tiền Giang |
13,2 |
11,8 |
11,5 |
10,3 |
17,2 |
|
b. Doanh thu du lịch lữ hành |
|||||
|
- Quy mô cả 3 tỉnh/thành (tỷ đồng) |
na |
1.703,6 |
1.357,7 |
1.152,4 |
840,4 |
|
+ Lào Cai |
na |
143,6 |
129,9 |
110,9 |
105,6 |
|
+ Đà Nẵng |
na |
1.461,6 |
1.166,4 |
987,1 |
686,7 |
|
+ Tiền Giang |
na |
98,4 |
61,4 |
54,4 |
48,1 |
|
- Tăng trưởng cả 3 tỉnh/thành (%) |
na |
25,5 |
17,8 |
37,1 |
9,9 |
|
+ Lào Cai |
na |
10,5 |
17,1 |
5,0 |
12,7 |
|
+ Đà Nẵng |
na |
25,3 |
18,2 |
43,7 |
10,5 |
|
+ Tiền Giang |
na |
60,3 |
12,9 |
13,1 |
- 3,4 |
Nguồn: Tác giả tổng hợp dữ liệu từ Tổng cục Du lịch (VNAT); Cục Thống kê Lào Cai; Cục Thống kê Đà Nẵng; và Cục Thống kê Tiền Giang trong giai đoạn 2013-2018.
Ghi chú: (na) chưa có dữ liệu chính thức năm 2017 từ Tổng cục Thống kê (GSO) và VNAT.
2. Các biểu hiện về nhận thức du lịch của khách du lịch và cộng đồng dân cư địa phương tại điểm đến du lịch ở Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang
2.1. Kênh thông tin để quyết định du lịch tới Lào Cai, Đà Nẵng, Tiền Giang
Kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch giai đoạn 2003-2015 của Tổng cục Thống kê đã cho thấy, có sự thay đổi đáng kể về các biểu hiện của nhận thức du lịch của khách du lịch quốc tế liên quan tới nguồn cung cấp thông tin về điểm đến du lịch Việt Nam theo xu hướng chuyển trọng tâm từ nguồn thông tin qua kênh bạn bè và người thân để chuyển dần sang kênh Internet. Cụ thể, nếu như năm 2009, nguồn phổ biến nhất giúp khách quốc tế quyết định du lịch Việt Nam là qua kênh thông tin bạn bè-người thân và được 36,1% trong tổng số 9.287 khách (được phỏng vấn trả lời) lựa chọn, thì đến năm 2013 kênh phổ biến nhất là qua Internet cùng với qua bạn bè và người thân (đều chiếm 43,4% trong 9.500 khách được phỏng vấn lựa chọn). Xu hướng chuyển đổi trọng tâm này đã và đang diễn ra ở hầu hết các thị trường khách quốc tế tới Việt Nam kể từ cuối thập kỷ 2000 trở lại đây, nhưng với tốc độ chuyển đổi nhanh nhất là ở thị trường khách châu Âu (ví dụ như ở thị trường khách Nga là 28,6% và tại Anh là 57,6% trong tổng số 313 khách và 615 khách được phỏng vấn năm 2013) cũng như thị trường khách châu Đại Dương (điển hình là thị trường khách Úc chiếm tỷ trọng 65,3% trong tổng số 760 khách Úc được phỏng vấn trong cùng kỳ). Xu hướng chuyển đổi dần trọng tâm sang ưu tiên kênh thông tin từ Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng được dự báo có nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng cao trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang có chiều hướng diễn ra ngày càng sâu, rộng trên phạm vi toàn cầu (Việt Nam không phải là một ngoại lệ).
Mặc dù vậy, tại một số thị trường khách quốc tế lớn như Trung Quốc, Mỹ, và Pháp thì xu hướng thay đổi trọng tâm này vẫn diễn ra chậm chạp và kênh phổ biến nhất giúp họ quyết định du lịch Việt Nam vẫn là thông qua bạn bè và người thân (tương ứng của Trung Quốc là 44,3%; của Mỹ là 47,8%; và của Pháp là 52,4% đã lựa chọn trong tổng số 1.419 khách; 659 khách; và 771 khách quốc tế của từng nước trên được phỏng vấn năm 2013). Một trong những nguyên nhân quan trọng giúp lý giải tình trạng khác biệt này là do giữa thị trường khách Trung Quốc, Mỹ, và Pháp có các mối liên kết khá chặt chẽ với Việt Nam thông qua các kết nối văn hóa với người Việt gốc Hoa (ở Việt Nam), cộng đồng người thân của Việt kiều Mỹ (ở Việt Nam), và cộng đồng Pháp ngữ (ở Việt Nam). Tương tự, tình trạng này cũng diễn ra ở một số nước khác của châu Âu và châu Mỹ như Na Uy và Đức (tương ứng chiếm tỷ trọng cao nhất là 49,0% và 51,0% trong tổng số 51 khách và 357 khách từ thị trường 2 nước được phỏng vấn trong cùng kỳ). Một điểm đáng lưu ý nữa ở đây đó là tỷ trọng khách quốc tế lựa chọn nguồn sách, báo, và tạp chí như là kênh thông tin du lịch giúp họ biết về các địa điểm du lịch Việt Nam kể từ nửa cuối thập kỷ 2000 đã có chiều hướng suy giảm nhanh, tương ứng từ mức 36,1% năm 2009 xuống tới 20,4% năm 2013. Cũng trong thời kỳ này, tỷ trọng khách quốc tế lựa chọn nguồn kênh tivi cũng có xu hướng giảm nhanh, tương ứng từ 18% xuống tới 7% (Bảng 3).
Bảng 3: Lý do quyết định du lịch Việt Nam qua kênh thông tin lựa chọn (%)
|
|
2013 |
2011 |
2009 |
2006 |
|
Bạn bè và người thân |
43,4 |
36,9 |
36,1 |
30,4 |
|
Sách, báo, tạp chí |
20,4 |
33,6 |
33,3 |
14,0 |
|
Internet |
43,4 |
4,0 |
9,9 |
14,5 |
|
Công ty du lịch |
19,2 |
13,7 |
17,7 |
10,7 |
|
Tivi |
7,0 |
- |
18,0 |
4,2 |
|
Được mời |
5,0 |
- |
- |
- |
|
Nguồn khác |
7,4 |
11,7 |
15,8 |
13,2 |
Nguồn: Kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch giai đoạn 2003-2015 của GSO (2017).
- Kết quả điều tra khách quốc tế đến: Thực trạng tồn tại một bộ phận không nhỏ thị trường khách quốc tế vẫn chủ yếu dựa vào nguồn thông tin từ bạn bè để biết được các điểm đến du lịch ở Việt Nam, cũng phần nào được phản ánh rõ hơn trong kết quả điều tra bằng bảng hỏi (tổng số 150 phiếu hỏi) của nhóm nghiên cứu đối với các du khách nước ngoài đi du lịch ở 3 địa bàn là tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng, và tỉnh Tiền Giang. Theo đó, phần lớn du khách nước ngoài biết đến các địa điểm du lịch ở 3 địa bàn khảo sát trên đây chủ yếu thông qua kênh bạn bè giới thiệu (chiếm tỷ trọng 50,0% trong tổng số các du khách nước ngoài được hỏi). Điều này có nghĩa kết quả điều tra thu được (từ 3 địa bàn khảo sát bao gồm tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng, và tỉnh Tiền Giang) có một sự khác biệt không nhỏ so với xu hướng dịch chuyển trọng tâm của du khách quốc tế trong việc lựa chọn từ kênh bạn bè và người thân để chuyển dần sang kênh dịch vụ Internet nói chung và các trang mạng xã hội nói riêng (tỷ lệ khách nước ngoài biết đến các địa điểm du lịch qua các trang web về du lịch là 24,7% trên địa bàn của 3 tỉnh/thành phố được khảo sát trong cùng kỳ) (Biểu đồ 1).
Biểu đồ 1: Hình thức du khách biết đến các địa điểm du lịch (tỷ lệ %)

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả dựa trên kết quả điều tra phiếu hỏi
Sở dĩ xảy ra sự khác biệt đáng kể về xu hướng trên 3 địa bàn khảo sát (chủ yếu qua kênh bạn bè) với cả nước (chủ yếu qua kênh Internet) bởi mẫu nghiên cứu khảo sát của đề tài nghiên cứu có tỷ lệ khách quốc tế được phỏng vấn đến từ thị trường khách Trung Quốc chiếm tỷ trọng cao nhất (39,3%), tiếp đó là khách quốc tế đến từ thị trường khách Na Uy (6,0%), rồi từ thị trường khách Mỹ (5,3%), và tiếp đó là thị trường khách Đức (2,0%). Theo kết quả phân tích trên đây, đa phần khách du lịch của 4 thị trường khách quốc tế này đều chủ yếu dựa trên kênh thông tin từ bạn bè và người thân để biết đến các điểm du lịch Việt Nam trong quá trình ra quyết định lựa chọn điểm đến du lịch Việt Nam. Chính số phiếu khảo sát thu được từ cả 4 thị trường khách quốc tế này (chiếm tỷ trọng khá cao 52,6% trong tổng số khách quốc tế đến Việt Nam được phỏng vấn trong cùng kỳ) đã góp phần tác động có ý nghĩa thống kê tới kết quả khảo sát điều tra trên địa bàn của tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng, và tỉnh Kiên Giang (được tiến hành khảo sát bởi nhóm nghiên cứu điều tra của đề tài).
Tại cuộc khảo sát chúng tôi có tìm hiểu về những du khách đi du lịch ở nước ta đến từ nước nào? Trong số những du khách đến từ các nước trên thế giới có tham gia trả lời câu hỏi thì khách đi du lịch ở các địa bàn khảo sát có nhiều du khách Trung Quốc là 66 người (chiếm 44,0%); Na Uy là 9 người (6,0%); Canada và Mỹ là 8 người (5,3%); Úc là 7 người (4,7%); Czech và Hà Lan là 6 người (4,0%); các nước Anh-Pháp-Đức đều có 4 người (2,7%). Ngoài ra còn có du khách của các nước khác như Mexico, Hàn Quốc, Tây Ban Nha,...
- Kết quả điều tra khách du lịch nội địa: Kết quả điều tra bằng bảng hỏi (tổng số 315 phiếu) với các du khách trong nước đi du lịch ở 3 địa bàn của tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Tiền Giang của nhóm nghiên cứu cũng cho thấy du khách nội địa biết đến các địa điểm du lịch ở những địa phương này chủ yếu thông qua nguồn thông tin từ kênh bạn bè giới thiệu (chiếm tỷ trọng 52,1% trong tổng du khách nội địa được phỏng vấn đã trả lời); và tỷ lệ du khách nội địa biết đến các địa điểm du lịch trên qua các phương tiện truyền thông là 45,4%; còn một bộ phận du khách nội địa khác biết đến các địa điểm du lịch trên địa bàn 3 tỉnh/thành phố này thông qua các trang web về du lịch chiếm tỷ trọng 25,4% trong cùng thời kỳ. Khoảng 5,1% số du khách nội địa được phỏng vấn đã lựa chọn các địa điểm du lịch qua các kênh thông tin khác (Biểu đồ 2).
Biểu đồ 2: Hình thức biết đến các địa điểm du lịch (tỷ lệ %)

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả dựa trên kết quả điều tra phiếu hỏi.
2.2. Tiêu chí tác động đến việc du khách chọn điểm đến du lịch ở 3 tỉnh/thành phố
Dựa trên kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch giai đoạn 2003-2015 của Tổng cục Thống kê, chúng ta có thể thấy rằng trong khi khách quốc tế đến Việt Nam vẫn chủ yếu nhằm mục đích đi du lịch nghỉ ngơi (chiếm tỷ trọng trên 70% tổng du khách quốc tế) thì xu hướng gia tăng tầm quan trọng của tiêu chí “điểm du lịch hấp dẫn” lại tiếp tục được các du khách đánh giá như là tiêu chí hàng đầu tác động tới việc lựa chọn điểm đến du lịch Việt Nam kể từ giữa thập kỷ 2000. Đây cũng được xem như là một trong các biểu hiện rõ ràng nhất của quá trình thay đổi nhận thức du lịch của du khách quốc tế đến Việt Nam.
Một mặt, tiêu chí quan trọng nhất tác động đến việc khách du lịch quốc tế lựa chọn Việt Nam là điểm đến trong hành trình du lịch của họ bởi vì Việt Nam về cơ bản được cảm nhận như là điểm du lịch “hấp dẫn” trong mắt của đa phần du khách quốc tế. Trên thực tế, tiêu chí về điểm du lịch hấp dẫn này của Việt Nam không chỉ giữ vị trí đứng đầu mà quan trọng hơn là nó đang có chiều hướng gia tăng kể từ giữa thập kỷ 2000 trở lại đây (từ tỷ trọng 56% năm 2006 tăng lên mức 62,9% trong tổng khách quốc tế được phỏng vấn năm 2013). Bên cạnh đó, tiêu chí thứ hai tác động đến quyết định của du khách quốc tế trong việc lựa chọn Việt Nam chính là độ an toàn của điểm đến (chiếm tỷ trọng 29,2% tổng du khách quốc tế năm 2013). Cho dù Việt Nam đang được thế giới biết đến như là điểm đến an toàn và rất thanh bình, đặc biệt là khía cạnh ổn định chính trị và bảo đảm an ninh trật tự-xã hội, nhưng vẫn còn đó những lo ngại của du khách quốc tế về khía cạnh bảo đảm an toàn giao thông, bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm,…
Mặt khác, còn phải kể đến một số tiêu chí quan trọng khác như giá trị đồng tiền nội địa VND (tương ứng chiếm tỷ trọng 12,5% và 21,1% trong cùng thời kỳ) và đặc biệt là thủ tục hải quan và nhập cảnh đơn giản (tương ứng chiếm tỷ trọng 7,3% và 10,0% trong cùng kỳ). Thậm chí, chính phủ Việt Nam còn đơn phương tiến hành chính sách miễn thị thực có chọn lọc cho công dân của một số nước trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga, Na Uy, Thuỵ Điển, Anh, Phần Lan, Đan Mạch, Pháp, Tây Ban Nha, Đức,… Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, những cải cách về thủ tục hải quan và thủ tục nhập cảnh của các cơ quan hữu quan của Việt Nam theo hướng ngày càng đơn giản, minh bạch và thuận tiện hơn đã được cộng đồng du khách quốc tế ghi nhận và đánh giá cao, qua đó góp phần rất quan trọng vào tác động tích cực tới khuyến khích du khách quốc tế trong việc gia tăng lựa chọn Việt Nam như là điểm đến du lịch trong hành trình lựa chọn chuyến đi du lịch của họ.
Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý trong số những tiêu chí quan trọng có tác động đến việc du khách quốc tế lựa chọn điểm đến du lịch Việt Nam trong hơn hai thập kỷ qua, đó là chất lượng dịch vụ vận chuyển nói chung và vận chuyển hành khách nói riêng của các phương tiện giao thông ở nước ta vẫn còn chưa cao và chưa thực sự thuận tiện (ví dụ tắc nghẽn giao thông đô thị và đặc biệt là khu vực cảng hàng không quốc tế) trong bối cảnh tăng trưởng “nóng” của du khách quốc tế đến Việt Nam. Điều này đã được thể hiện khá rõ ràng trong cảm nhận đánh giá chưa cao của đa phần du khách quốc tế (đến Việt Nam) liên quan trực tiếp tới tiêu chí phương tiện đi lại thuận tiện của Việt Nam kể từ giữa thập kỷ 2000 (tương ứng chiếm các tỷ trọng 11,1% và khoảng 12,7% trong tổng du khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2006 và năm 2013) (Bảng 4).
Bảng 4: Tiêu chí tác động đến việc lựa chọn điểm đến du lịch Việt Nam (%)
|
|
2013 |
2011 |
2009 |
2006 |
|
Điểm du lịch hấp dẫn |
62,9 |
56,2 |
51,4 |
56,0 |
|
Phương tiện đi lại thuận tiện |
12,7 |
11,6 |
12,1 |
11,1 |
|
Giá trị đồng tiền |
21,1 |
13,0 |
15,7 |
12,5 |
|
Thủ tục hải quan và nhập cảnh đơn giản |
10,0 |
6,3 |
6,5 |
7,3 |
|
Điểm đến an toàn |
29,2 |
20,0 |
35,6 |
na |
|
Khác |
14,6 |
15,2 |
21,0 |
24,0 |
Nguồn: Kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch giai đoạn 2003-2015 của GSO (2017).
- Kết quả điều tra khách quốc tế đến: Dựa trên kết quả điều tra bằng bảng hỏi (150 phiếu) đối với các du khách nước ngoài đi du lịch trên địa bàn của tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng, và tỉnh Tiền Giang chúng ta có thể thấy được một phần những tiêu chí cơ bản đang có tác động đến việc du khách chọn điểm đến du lịch Việt Nam. Theo đó, lý do chủ yếu mà đa phần du khách quốc tế lựa chọn những điểm đến tham quan du lịch tại 3 địa bàn khảo sát thực tế của tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Tiền Giang trước hết là để thư giãn (chiếm tỷ trọng 60,0% trong số những người được hỏi chọn các phương án), kế tiếp là để tìm hiểu về phong tục và tập quán địa phương (chiếm 50,7%). Một bộ phận khác của du khách quốc tế lại thích lựa chọn địa điểm du lịch đến tham quan để khám phá về thiên nhiên (32,7%). Ngoài ra, du khách nước ngoài đến du lịch ở các điểm du lịch này cũng còn để tìm hiểu thêm về môi trường sinh thái, để tận hưởng không khí trong lành mát mẻ, để tham gia các trò chơi mạo hiểm (như trò chơi leo núi, lướt sóng),… nhưng với tỷ lệ tương đối thấp (Biểu đồ 3).
Biểu đồ 3: Lý do du khách lựa chọn điểm du lịch (tỷ lệ%)

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả dựa trên kết quả điều tra phiếu hỏi.
- Kết quả điều tra khách du lịch nội địa: Kết quả khảo sát điều tra (mẫu nghiên cứu gồm 315 quan sát) với du khách nội địa trên địa bàn của tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Tiền Giang đã cho thấy khách du lịch nội địa lựa chọn đến 3 điểm du lịch ở 3 địa phương này với nhiều lý do khác nhau, trong đó có 3 lý do chiếm tỷ lệ cao nhất đó là: để tận hưởng không khí trong lành mát mẻ (chiếm tỷ trọng 52,4% trong tổng số du khách nội địa được phỏng vấn), để khám phá về thiên nhiên (47,0%), và để thư giãn (40,0%). Điều đó cũng có nghĩa rằng đã có sự khác biệt đáng kể về hai lý do hàng đầu đi du lịch của du khách nội địa so với du khách quốc tế đến du lịch tại Lào Cai, Đà Nẵng, và Tiền Giang trong cùng thời kỳ. Cụ thể, trong khi du khách quốc tế coi trọng hàng đầu 2 lý do liên quan tới du lịch để thư giãn và để tìm hiểu về phong tục-tập quán bản địa (tại Lào Cai, Đà Nẵng, và Tiền Giang), thì trái lại nhóm du khách nội địa lại không đánh giá cao 2 lý do này (chỉ xếp hạng thứ 3 và thứ 5). Tương tự như vậy, mặc dù nhóm du khách nội địa xếp hạng hàng đầu về du lịch để tận hưởng không khí trong lành mát mẻ và để khám phá thiên nhiên, thì trái lại nhóm du khách quốc tế lại chỉ đánh giá 2 lý do này ở mức thấp (tương ứng xếp hạng thứ 3 và thứ 5) trong cùng kỳ.
Biểu đồ 4: Lý do du khách lựa chọn các điểm du lịch địa phương (tỷ lệ%)

Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả dựa trên kết quả điều tra phiếu hỏi.
Ngoài ra, một bộ phận khách du lịch nội địa lựa chọn đến các địa điểm du lịch trên để tìm hiểu về môi trường sinh thái, tìm hiểu về phong tục, tập quán hay để tham gia trò chơi mạo hiểm (leo núi, lướt sóng)… nhưng chiếm tỷ lệ thấp hơn. Một nghiên cứu của tổ chức AC Nielson do Tổ chức phát triển Hà Lan ủy thác cho thấy có 84% du khách muốn tham quan danh lam thắng cảnh địa phương; 54% du khách muốn trải nghiệm thiên nhiên, nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe (2). Như vậy, về cơ bản du khách nội địa khi đi du lịch vẫn chủ yếu để thư giãn, nghỉ ngơi và khám phá về thiên nhiên, do đó các nhà quản lý cùng cộng đồng địa phương của 3 tỉnh/thành trên cần phát triển loại hình du lịch phù hợp với nhu cầu đa dạng của khách du lịch (Biểu đồ 4).
2.3. Ấn tượng của du khách về du lịch ở Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang
Một mặt, kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch giai đoạn 2003-2015 của Tổng cục Thống kê đã cho thấy rằng phong cảnh đẹp được đa phần các du khách quốc tế đánh giá là ấn tượng tốt nhất của họ về du lịch Việt Nam sau khi đã tiến hành trải nghiệm thăm quan du lịch ở nước ta (68,5% du khách quốc tế đồng ý với nhận định rằng phong cảnh đẹp là ấn tượng tốt nhất của họ về Việt Nam). Trên thực tế, Việt Nam cũng nổi tiếng thế giới về cảnh đẹp thiên nhiên, thậm chí còn có các di sản thế giới nổi tiếng được UNESCO công nhận như vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, quần thể danh thắng Tràng An,… Chỉ tính riêng trên địa bàn của 3 tỉnh/thành phố được khảo sát bởi nhóm nghiên cứu thì nhận định này cũng được kiểm chứng tốt, ví dụ như Đà Nẵng nổi tiếngvới bãi biển Mỹ Khê đẹp, Lào Cai nổi tiếng với du lịch văn hóa Sapa, hay Tiền Giang nổi tiếng với chợ nổi Cái Bè và cù lao Thới Sơn,...
Mặt khác, điểm đáng quan tâm nhất ở đây đó là những cảm nhận/ấn tượng của du khách quốc tế (sau khi đã đi du lịch) nói về Việt Nam nói chung và về nhận thức du lịch của cộng đồng dân cư nói riêng. Cụ thể, nếu như năm 2006 chỉ có 32,4% tổng số du khách quốc tế đến nước ta có ấn tượng tốt về thái độ con người Việt Nam gắn với hoạt động du lịch thì đến năm 2013 con số này đã tăng vọt lên tới mức 43,1% (tức là tăng 10,7% trong vòng 8 năm qua) (Bảng 5).
Bảng 5: Những ấn tượng/cảm nhận của du khách quốc tế về Việt Nam (%)
|
|
2013 |
2011 |
2009 |
2006 |
|
Phong cảnh đẹp |
68,5 |
55,4 |
50,2 |
52,0 |
|
Thái độ con người Việt Nam |
43,1 |
30,9 |
35,8 |
32,4 |
|
Chất lượng phục vụ |
38,9 |
9,8 |
na |
na |
|
Hàng hóa rẻ |
23,9 |
13,8 |
18,6 |
14,4 |
|
Khác |
9,4 |
13,6 |
18,3 |
14,0 |
Nguồn: Kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch giai đoạn 2003-2015 của GSO (2017).
Riêng đối với trường hợp của các địa bàn được khảo sát điều tra là tỉnh Lào Cai và thành phố Đà Nẵng, có thể nhận thấy rõ một sự khác biệt lớn giữa ấn tượng của những du khách quốc tế đối với Lào Cai và Đà Nẵng sau khi họ đã trải nghiệm du lịch thực tế từ 2 nơi này trở về trong giai đoạn 2009-2013. Theo đó, nếu như năm 2009 chỉ có 42,4% du khách quốc tế có ấn tượng tốt về thái độ con người Việt Nam trên địa bàn của thành phố Đà Nẵng thì đến năm 2013 con số này đã tăng lên tới 46,8%. Mặc dù vậy, ấn tượng đẹp nhất của du khách quốc tế về Đà Nẵng vào năm 2013 lại là phong cảnh đẹp (thay vì là thái độ thân thiện của người dân như năm 2009). Mặc dù tỷ trọng du khách quốc tế vẫn có ấn tượng tốt về phong cảnh đẹp của tỉnh Lào Cai giai đoạn 2009-2013, nhưng tỷ trọng du khách quốc tế có ấn tượng tốt về thái độ con người Việt Nam tại địa bàn tỉnh Lào Cai lại có xu hướng tăng nhanh (Bảng 6).
Tương tự, có một điểm đáng lưu ý khác ở đây đó là chất lượng phục vụ du lịch của đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp lại được đánh giá ở mức tương đối cao (cao hơn nhiều so với mức cùng kỳ của thành phố Đà Nẵng). Cụ thể, trong khi có đến 44,5% du khách quốc tế có ấn tượng tốt về chất lượng phục vụ du lịch trên địa bàn của tỉnh Lào Cai năm 2013, thì con số tương ứng lại chỉ là 37% tại Đà Nẵng trong cùng thời kỳ. Như vậy, chất lượng phục vụ du lịch của Lào Cai đang được cộng đồng khách quốc tế đánh giá cao (chiếm vị trí thứ 2, chỉ sau ấn tượng tốt về phong cảnh đẹp). Điều đó có nghĩa nhận thức của cộng đồng dân cư với hoạt động du lịch đã có chiều hướng được cải thiện rõ rệt kể từ cuối thập kỷ 2000. Đây có thể được xem là một trong các điểm nhấn then chốt nhất cần phát huy nhân rộng từ kinh nghiệm của tỉnh Lào Cai cho các địa phương khác để giúp thúc đẩy phát triển du lịch bền vững trong cả hiện tại và tương lai.
Bảng 6: Ấn tượng/cảm nhận của du khách quốc tế về Lào Cai và Đà Nẵng (%)
|
|
Năm 2013 |
Năm 2009 |
||
|
Lào Cai |
Đà Nẵng |
Lào Cai |
Đà Nẵng |
|
|
Khách được phỏng vấn (người) |
||||
|
Phong cảnh đẹp |
216 |
322 |
221 |
157 |
|
Thái độ con người Việt Nam |
150 |
234 |
45 |
212 |
|
Chất lượng phục vụ |
178 |
185 |
na |
na |
|
Hàng hóa rẻ |
48 |
139 |
101 |
58 |
|
Khác |
22 |
20 |
42 |
107 |
|
Tổng cộng (người) |
400 |
500 |
399 |
491 |
|
Cơ cấu khách được phỏng vấn(%) |
||||
|
Phong cảnh đẹp |
54,0 |
64,4 |
55,4 |
31,4 |
|
Thái độ con người Việt Nam |
37,5 |
46,8 |
11,3 |
42,4 |
|
Chất lượng phục vụ |
44,5 |
37,0 |
na |
na |
|
Hàng hóa rẻ |
12,0 |
27,8 |
25,3 |
11,6 |
|
Khác |
5,5 |
4,0 |
10,5 |
21,4 |
|
Tổng cộng (%) |
100,0 |
100,0 |
100,0 |
100,0 |
Nguồn: Kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch giai đoạn 2003-2015 của GSO (2017).
Bên cạnh những ấn tượng tốt của du khách quốc tế về Việt Nam, chúng ta cũng phải thừa nhận một sự thật rằng vẫn còn tồn tại một số ấn tượng chưa tốt liên quan tới hoạt động du lịch Việt Nam trong những năm vừa qua. Nếu xét trên bình diện chung của quốc gia thì kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch giai đoạn 2003-2015 của Tổng cục thống kê đã cho thấy gần một nửa du khách quốc tế đến Việt Nam có ấn tượng không tốt về mức độ an toàn khi tham gia giao thông (chiếm tỷ trọng 39,1% trong tổng số 9.500 du khách quốc tế được phỏng vấn năm 2013), kế tiếp là ấn tượng về bị gian lận khi mua hàng hóa và dịch vụ (chiếm 31,1%), rồi đến ấn tượng về bị làm phiền bởi người bán hàng rong (chiếm 30,9%), cũng như ấn tượng về thói quen xả rác bừa bãi của người dân (chiếm 27,6%) và ấn tượng về các sản phẩm và dịch vụ du lịch chưa phong phú (chiếm 16,1%). Trong trường hợp chỉ xét riêng ở cấp tỉnh/thành phố thì những ấn tượng chưa tốt của du khách quốc tế về du lịch địa phương cũng hầu như tập trung chủ yếu vào 5 ấn tượng không tốt đã nêu trên (tuy nhiên vẫn có một số khác biệt đáng kể về trật tự xếp hạng liên quan tới 5 ấn tượng không tốt của du khách quốc tế tùy theo từng địa phương). Cụ thể ở Lào Cai và Đà Nẵng, mặc dù ấn tượng không tốt của du khách quốc tế về mức độ an toàn khi tham gia giao thông và về thói quen xả rác bừa bãi của người dân trên địa bàn của 2 tỉnh/thành phố này đều chiếm 2 vị trí quan ngại hàng đầu, nhưng trong khi mức độ nghiêm trọng ở Lào Cai được xem là thấp hơn so với cả nước (tương ứng chiếm 28,8% và 19,8% trong 400 du khách quốc tế được phỏng vấn tại Lào Cai năm 2013) thì trái lại mức độ quan ngại ở Đà Nẵng lại bị đánh giá là trầm trọng hơn rất nhiều so với cả nước trong cùng kỳ (tương ứng chiếm 41,6% và 38,8% trong 500 du khách quốc tế được phỏng vấn tại Đà Nẵng năm 2013). Bên cạnh đó, trong khi ấn tượng không tốt về bị gian lận khi mua hàng hóa và dịch vụ của du khách quốc tế ở thành phố Đà Nẵng xếp ở vị trí quan ngại lớn thứ 3 (chiếm tỷ trọng 26,2%) thì vấn đề quan ngại này ở Lào Cai lại chỉ xếp hạng ở vị trí thứ 5 (chiếm tỷ trọng 14%) trong cùng năm 2013. Những ấn tượng không tốt của du khách quốc tế về hoạt động du lịch Việt Nam trong những năm qua được xem như là một kênh phản chiếu về một số hạn chế chủ yếu trong nhận thức của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch ở nhiều địa phương trong cả nước (bao gồm cả tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng, và tỉnh Tiền Giang).
3. Thay lời kết
Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch của Việt Nam đang diễn ra sôi động và tiếp tục đà tăng trưởng đầy ấn tượng (3). Hoạt động du lịch trên địa bàn của tỉnh Lào Cai, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Tiền Giang không chỉ hòa mình vào dòng chảy du lịch đang diễn ra sôi động trong cả nước mà quan trọng hơn là 3 tỉnh/thành phố này còn được đánh giá là đang gặt hái những thành tích du lịch đáng khâm phục (4). Đặc biệt, trong khi thành phố Đà Nẵng đang có dấu hiệu tăng trưởng “nóng” về thu hút du khách quốc tế thì tỉnh Lào Cai lại được đánh giá là có xu hướng tăng trưởng nóng về thu hút khách nội địa. Mặc dù vậy, tỷ trọng khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa có xu hướng quay trở lại thăm Lào Cai, Đà Nẵng, và Tiền Giang đều không cao trong những lần thăm thứ 2 trở lên (nếu không muốn nói là số lượng và tốc độ tăng trưởng du khách vẫn chủ yếu dựa vào thu hút khách du lịch trong lần thăm đầu tiên). Một phần nguyên nhân của tình trạng này đó là song hành cùng với những ấn tượng tốt của du khách quốc tế và du khách nội địa về Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang (chủ yếu về khía cạnh phong cảnh đẹp, thái độ con người Việt Nam thân thiện, và chất lượng phục vụ du lịch được cải thiện đáng kể) thì vẫn còn tồn tại những ấn tượng chưa tốt của du khách về những địa phương này (chủ yếu là những quan ngại về mức độ an toàn khi tham gia giao thông, bị gian lận khi mua hàng hóa và dịch vụ, bị làm phiền bởi người bán hàng rong, thói quen xả rác bừa bãi của người dân, các sản phẩm và dịch vụ du lịch chưa phong phú).
Điều này có nghĩa rằng bên cạnh những đóng góp quan trọng vào thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc cũng như xây dựng và quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, hoạt động du lịch Việt Nam tại địa bàn Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang vẫn còn bộc lộ không ít bất cập, trong đó có nguyên nhân trực tiếp từ việc nhận thức của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch ở cả 3 địa phương trên còn hạn chế. Một mặt, nếu những hạn chế về mặt nhận thức của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch tại Lào Cai, Đà Nẵng và Tiền Giang không được quan tâm đúng mực đi kèm với những giải pháp hữu hiệu kịp thời, thì chúng sẽ trở thành một trong những rào cản lớn (thậm chí là thách thức lớn) góp phần kìm hãm nỗ lực thu hút du khách quay trở lại thăm du lịch 3 tỉnh/thành phố này trong những lần sau đó (du lịch lần thứ 2 và thậm chí là lần thứ 3 trở lên). Mặt khác, nếu các hạn chế về mặt nhận thức của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch tại 3 tỉnh/thành phố này được cải thiện đáng kể thì nhiều khả năng chúng sẽ trở thành những cơ hội mới giúp những địa phương này cải thiện tốt hình ảnh du lịch địa phương, qua đó khuyến khích thu hút không chỉ những du khách tới thăm lần đầu mà quan trọng hơn là hấp dẫn du khách quay lại thăm vào nhiều lần sau nữa theo hướng tăng trưởng xanh, bao trùm và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng./.
N.T.T.P - N.C.Đ
(Tạp chí Văn hóa học, số 5 (39) - 2018)
1. Tổng cục Thống kê Việt Nam - GSO (2018), Niên giám thống kê 2017, Nxb. Thống kê, Hà Nội;
2. Http://www.itdr.org.vn/vi/kinh-nghiem-ptdl/kinh-nghiem-trong-nuoc/1216-xay-dung-mo-hinh-du-lich-cong-dong-trong-phat-trien-cua-dia-phuong-va-kinh-nghiem-phat-trien-du-lich-cong-dong-o-mot-so-dia-phuong.html
3. Đạt tốc độ 21,6%/năm giai đoạn 2016-2017 và gần chạm ngưỡng 13 triệu lượt khách năm 2017 (GSO, 2018).
4. Quy mô khách quốc tế năm 2017 đã tăng gấp 1,9 lần so với năm 2013 và chiếm tỷ trọng gần 1/3 du khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2013-2017 (GSO, 2018), Cục thống kê Lào Cai, Đà Nẵng, và Tiền Giang (2017).
Tài liệu tham khảo khác
Bình luận
Bài viết cùng chuyên mục