XÂY DỰNG MÔ HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG
TẠI THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
Phạm Mai Phương
Với nhiều lợi thế thiên nhiên ban tặng và sức sáng tạo của con người cùng văn hóa bản địa đặc sắc, Bảo Lộc (Lâm Đồng) đã và đang trở thành điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. Bảo Lộc hiện có nhiều khu, điểm tham quan du lịch được đầu tư và khai thác kinh doanh cùng với các điểm tham quan miễn phí, phục vụ nhu cầu tham quan, giải trí tạo nên sự đa dạng, phong phú đối với các tour, tuyến du lịch. Thời gian gần đây, chính quyền, doanh nghiệp tỉnh Lâm Đồng bước đầu nghiên cứu và triển khai áp dụng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng. Việc phát triển các sản phẩm du lịch dựa vào cộng đồng sẽ đáp ứng được nhu cầu khám phá của đông đảo du khách muốn tìm hiểu văn hóa dân tộc đặc sắc tại Bảo Lộc. Tuy nhiên, để du lịch dựa vào cộng đồng trở thành loại hình du lịch có bước phát triển mạnh và bền vững đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Lâm Đồng nói chung và thành phố Bảo Lộc nói riêng cần phải nghiên cứu, xác định được các sản phẩm du lịch có thể tham gia vào mô hình du lịch cộng đồng.
Theo chúng tôi ở thành phố Bảo Lộc có các loại tài nguyên và điểm du lịch có thể trở thành sản phẩm du lịch trong mô hình như sau:
- Đồi chè Tâm Châu (Thôn 4, xã Lộc Tân, cách thành phố Bảo Lộc khoảng 16km).
- Thác ĐamB'ri (Thôn 4, xã ĐamB'ri, cách thành phố Bảo Lộc khoảng 18km, là địa điểm du lịch nằm trong khu du lịch ĐamB'ri).
- Thác Đasara và Đạ Tôn (Thôn 4, xã ĐamB'ri, cách thành phố Bảo Lộc khoảng 18km, là địa điểm du lịch nằm trong khu du lịch ĐamB'ri).
- Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Đạ Nghịch, dân tộc Châu Mạ (Thôn Đạ Nghịch, xã Lộc Châu).
- Vùng trồng dâu, nuôi tằm ở xã ĐamB'ri (Thôn 8, xã ĐamB'ri).
- Múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ (Lễ gọi Thần Lửa; lễ cúng chiêng; diễn tấu cồng chiêng; múa xoang).
- Tranh thêu bướm Ánh Kim (828/2 Trần Phú, phường Lộc Tiến).
- Vườn lan Trịnh Văn Sỹ (thôn Tân Hương 1, xã Lộc Thanh).
1. Đánh giá các điểm tài nguyên/điểm du lịch
Thứ nhất: Đánh giá về khả năng thu hút khách
Được xây dựng cho 4 chỉ tiêu chủ yếu: Tính hấp dẫn; tính an toàn; tính liên kết; chất lượng cơ sở hạ tầng (CSHT) và cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) du lịch.
- Tính hấp dẫn đối với du khách của tài nguyên du lịch tự nhiên là vẻ đẹp , độc đáo của cảnh quan thiên nhiên, sự đa dạng của địa hình, địa mạo, tính đa dạng sinh học, sự phù hợp của khí hậu đối với sức khoẻ con người, tính nguyên sơ đặc sắc và độc đáo của các di tích, văn hóa bản địa và hiện tượng tự nhiên.
- Tính an toàn được xác định bởi tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội, vệ sinh môi trường.
- Tính liên kết được xác định bởi số điểm du lịch và khoảng cách giữa các điểm du lịch trong một không gian nhất định và mức độ tiện lợi cho việc liên kết các điểm du lịch thành tuyến du lịch hoặc thành cụm.
- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được xác định bởi sự tiện lợi và đồng bộ của mạng lưới giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước, cơ sở phục vụ nhu cầu ăn, nghỉ, giải trí và các điều kiện hỗ trợ khác, v.v…, cho du khách.
Mỗi một chỉ tiêu nêu trên được đánh giá theo 4 bậc điểm: 40, 30, 20, 10 tương ứng với mức độ đánh giá từ cao đến thấp (tốt, khá, trung bình và kém).
Thứ hai: Đánh giá khả năng phục vụ các tài nguyên du lịch
Ngoài các tiêu chí về tính hấp dẫn, tính an toàn, tính liên kết, cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật du lịch, người ta còn sử dụng thêm 3 tiêu chí khác: Tính thời vụ, tính bền vững và sức chứa du khách của từng điểm tài nguyên.
- Tính thời vụ được xác định bởi số ngày thích hợp trong năm cho việc tổ chức các hoạt động du lịch, đón và phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Tính thời vụ của tài nguyên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố về số loại hình tổ chức.
- Tính bền vững là khả năng bảo tồn, duy trì các thành phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực của các hoạt động du lịch và các hiện tượng tự nhiên.
- Sức chứa du khách là tổng sức chứa tối đa lượng du khách tại một thời điểm nhất định trong ngày của một điểm tài nguyên du lịch. Các chỉ tiêu nêu trên cũng được đánh giá theo 4 bậc điểm: 40, 30, 20, 10 điểm.
Bảng 1: Bảng tổng hợp các tiêu chí đánh giá tiềm năng du lịch
|
Khả năng thu hút |
|||||
|
1 |
Tính hấp dẫn |
Rất hấp dẫn |
Khá hấp dẫn |
Trung Bình |
Kém |
|
Phong cảnh tối thiểu |
04 |
03 |
02 |
01 |
|
|
Đa dạng về hệ sinh thái, cảnh quan, kiến trúc |
Độc đáo, đa dạng |
Đa dạng |
Trung bình |
Kém |
|
|
Loại hình có thể tổ chức |
Ít nhất 04 |
03 |
02 |
01 |
|
|
2 |
Tính an toàn |
Rất an toàn |
Khá an toàn |
Trung bình |
Kém |
|
An toàn về sinh thái |
Rất tốt |
Rất tốt |
Rất tốt |
- |
|
|
Tệ nạn xã hội |
Không có |
- |
- |
- |
|
|
+ Ăn xin, bán hàng rong |
Không có |
Không thường xuyên |
Hoạt động mạnh |
Hoạt động mạnh |
|
|
+ Trộm cắp, cướp giật |
Không có |
Không có |
Không có |
Không có |
|
|
Dịch bệnh, ô nhiễm |
Không có |
Không có |
Không có |
Không có |
|
|
3 |
Tính liên kết |
Rất tốt |
Khá |
Trung bình |
Kém |
|
Số điểm tài nguyên lân cận |
Ít nhất 04 |
02-03 |
01-02 |
0 |
|
|
4 |
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật |
Rất tốt |
Khá |
Trung bình |
Kém |
|
Tính đồng bộ |
Rất đồng bộ |
Đồng bộ |
Chưa đồng bộ |
Kém |
|
|
Tính tiện nghi |
Đủ |
đủ |
Thiếu một số |
Kém |
|
|
Khả năng tiếp cận |
Thuận lợi |
Thuận lợi |
Tương đối |
Khó khăn |
|
|
Khả năng phục vụ hoạt động du lịch |
|||||
|
1 |
Tính thời vụ |
Rất dài |
Khá dài |
Trung bình |
Kém |
|
Số ngày có thế tổ chức |
Trên 250 |
180 - 250 |
100 - 180 |
<100 |
|
|
2 |
Tính bền vững |
Cao |
Khá |
Trung bình |
Kém |
|
Thành phần tài nguyên bị phá hoại |
Còn nguyên |
Ít |
Đáng kể |
Kém |
|
|
Khả năng phục hồi |
Nhanh |
Nhanh |
Chậm |
Rất chậm |
|
|
Khả năng tồn tại |
Trên 100 năm |
50-100 năm |
10- 50 năm |
< 10 năm |
|
|
3 |
Sức chứa |
Rất lớn |
Khá lớn |
Trung bình |
Kém |
|
Sức chứa thời điểm |
Trên 250 người |
150 - 250 |
50 - 150 |
dưới 50 |
|
(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát và điền dã thực địa đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu và xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng tại tỉnh Lâm Đồng”, 4-2018).
Tổng hợp điểm và phân hạn
Dựa vào điểm của 08 chuyên gia, sau đó chia trung bình và hệ số nhân được xác định. Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp điểm về khả năng thu hút và khả năng phục vụ hoạt động du lịch theo phương pháp tính tổng điểm. Nhìn chung, các chuyên gia cho điểm khá phù hợp, không có sự bất đồng quá lớn.
a. Về khả năng thu hút
Dựa vào kết quả khảo sát và đánh giá của du khách về tài nguyên du lịch và các điểm du lịch tại Bảo Lộc, đề tài đã chọn ra 8 điểm du lịch được du khách và các chuyên gia đánh giá khá cao, dự kiến sẽ đưa vào mô hình. Việc đưa điểm tài nguyên/điểm du lịch hay sản phẩm nào vào mô hình? Sản phẩm nào là chính? Sản phẩm nào phụ, phụ thuộc vào kết quả phân tích và tính toán khoa học sau đây.
Đầu tiên, chúng tôi sẽ đánh giá về khả năng thu hút du khách của các điểm tài nguyên/điểm du lịch.
Bảng 2: Tính điểm các tài nguyên và điểm/sản phẩm du
lịch về
khả năng thu hút
|
Điểm tài nguyên/điểm du lịch/sản phẩm du lịch |
Tính hấp dẫn |
Tính an toàn |
CSHT và CSVCKT |
Tính liên kết |
Cộng điểm |
||||
|
Điểm |
Hệ số |
Điểm |
Hệ số |
Điểm |
Hệ số |
Điểm |
Hệ số |
|
|
|
1. Đồi chè Tâm Châu |
35 |
3 |
32 |
3 |
31,5 |
2 |
30 |
2 |
324 |
|
2. Thác ĐamB'ri |
35,75 |
3 |
34,25 |
3 |
33 |
2 |
32 |
2 |
340 |
|
3. Thác Đasara và Đạ Tôn |
31,25 |
3 |
28,75 |
3 |
25 |
2 |
33,75 |
2 |
297,5 |
|
4. Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Đạ Nghịch, dân tộc Châu Mạ |
33,75 |
3 |
32,5 |
3 |
31,25 |
2 |
30 |
2 |
321,25 |
|
5. Vùng trồng dâu, nuôi tằm ở xã ĐamB'ri |
22,5 |
3 |
26,2 |
3 |
23,75 |
2 |
25 |
2 |
243,6 |
|
6. Múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ |
33,5 |
3 |
30,25 |
3 |
33,25 |
2 |
32 |
2 |
321,75 |
|
7. Tranh thêu bướm Ánh Kim |
30 |
3 |
30 |
3 |
23,75 |
2 |
27,5 |
2 |
282,5 |
|
8. Vườn lan Trịnh Văn Sỹ |
28,75 |
3 |
30 |
3 |
23,75 |
2 |
26,25 |
2 |
276,25 |
(Nguồn:
Tổng hợp từ kết quả khảo sát và điền dã thực địa đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu và
xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng
đồng tại tỉnh Lâm Đồng”, 4/2018).
Dựa vào kết quả đánh giá ở bảng 3, để phân hạng về khả năng thu hút và khả năng khai thác, nhóm nghiên cứu áp dụng công thức:
S = (Smax - Smin): B
(B: là số hạng đánh giá)
Kết quả xác định khoảng cách các hạng về khả năng thu hút là:
S = (400 - 100) : 40 = 70,5
Dựa vào khoảng cách các hạng, kết quả phân hạng được thể hiện tại bảng 4 trong đó:
+ Loại 1: Là các tài nguyên có số điểm từ 320,5 đến 400 điểm. Đây là các điểm tài nguyên có khả năng thu hút rất cao.
+ Loại 2: Là các tài nguyên có số điểm từ 250 đến 320,4 điểm. Đây là các tài nguyên có khả năng thuận lợi trong thu hút khách.
+ Loại 3: Là các tài nguyên có số điểm dưới 250 điểm. Đây là những tài nguyên ít thuận lợi cho việc thu hút khách.
Bảng 3: Phân hạng khả năng thu hút của tài nguyên du lịch
|
Loại |
Tài nguyên/điểm du lịch/sản phẩm du lịch |
|
Loại 1 (từ 320,5 đến 400 điểm) |
Đồi chè Tâm Châu; Thác ĐamB'ri; Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Đạ Nghịch, dân tộc Châu Mạ; Múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ. |
|
Loại 2 (từ 250 đến 320,4 điểm) |
Thác Đasara và Đạ Tôn; Tranh thêu bướm Ánh Kim; Vườn lan Trịnh Văn Sỹ. |
|
Loại 3 (từ dưới 250 điểm) |
Vùng trồng dâu, nuôi tằm ở xã ĐamB'ri. |
(Nguồn: Kết quả tổng hợp điểm từ phương pháp chuyên gia của đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu và xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng đồng tại tỉnh Lâm Đồng”)
Như vậy, có 4 điểm/sản phẩm du lịch được đánh giá là có khả năng thu hút du khách ở mức cao bao gồm: Đồi chè Tâm Châu; Thác ĐamB'ri; Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Đạ Nghịch, dân tộc Châu Mạ; Múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ. Trong đó thác ĐamB'ri có số điểm cao nhất và được đánh giá là điểm du lịch có tính hấp dẫn cao nhất.
Có 3 điểm/sản phẩm du lịch được đánh giá là thuận lợi trong thu hút du khách tới tham quan và trải nghiệm bao gồm: Thác Đasara và Đạ Tôn; Tranh thêu bướm Ánh Kim; Vườn lan Trịnh Văn Sỹ.
Có 1 điểm/ sản phẩm du lịch được đánh giá là ít thuận lợi trong việc thu hút du khách.
b. Về khả năng phục vụ hoạt động du lịch
Dựa vào kết quả tổng hợp điểm được chấm bởi 8 chuyên gia. Kết quả bảng 5 cho thấy: Đồi chè Tâm Châu có khả năng phục vụ hoạt động du lịch cao nhất trong đó tính thời vụ và sức chứa được các chuyên gia đánh giá rất cao. Tiếp theo là thác ĐamB'ri nằm trong khu du lịch ĐamB'ri có điểm số về khả năng phục vụ hoạt động du lịch chiếm vị trí thứ hai. Tiếp theo là múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ; Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Đạ Nghịch; Tranh thêu bướm Ánh Kim; Thác Đasara và Đạ Tôn; Vườn lan Trịnh Văn Sỹ; Vùng trồng dâu, nuôi tằm ở xã ĐamB'ri.
Bảng 4: Tính điểm các điểm tài nguyên du lịch về
khả năng phục vụ hoạt động du lịch
|
Điểm tài nguyên/điểm du lịch/sản phẩm du lịch |
Tính thời vụ |
Tính |
Sức chứa |
Cộng điểm |
|||
|
Điểm |
Hệ số |
Điểm |
Hệ số |
Điểm |
Hệ số |
||
|
1. Đồi chè Tâm Châu |
33,75 |
2 |
31,25 |
2 |
36,25 |
1 |
166,25 |
|
2. Thác ĐamB'ri |
33 |
2 |
32 |
2 |
32,5 |
1 |
162,5 |
|
3. Thác Đasara và Đạ Tôn |
28,75 |
2 |
26,25 |
2 |
20 |
1 |
130 |
|
4. Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Đạ Nghịch, dân tộc Châu Mạ |
31,25 |
2 |
31,25 |
2 |
28,75 |
1 |
153,75 |
|
5. Vùng trồng dâu, nuôi tằm ở xã ĐamB'ri |
26,25 |
2 |
20 |
2 |
27,5 |
1 |
120 |
|
6. Múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ |
32,5 |
2 |
32,5 |
2 |
27,5 |
1 |
157,5 |
|
7. Tranh thêu bướm Ánh Kim |
31,25 |
2 |
31,25 |
2 |
28,75 |
1 |
153,75 |
|
8. Vườn lan Trịnh Văn Sỹ |
26,25 |
2 |
23,75 |
2 |
27,5 |
1 |
127,5 |
(Nguồn: Kết quả tổng hợp điểm từ phương pháp chuyên gia của Ban chủ nhiệm đề tài)
Kết quả xác định khoảng cách các hạng về khả năng phục vụ hoạt động du lịch:
S = (200 - 50) : 40 = 30,75
Kết quả phân hạng được thể hiện tại bảng 6, trong đó:
+ Loại 1: Là các tài nguyên có số điểm từ 160, 25 đến 200 điểm. Đây là các tài nguyên có khả năng phục vụ hoạt động du lịch cao.
+ Loại 2: Là các tài nguyên có số điểm từ 120,5 đến 160,24 điểm. Đây là những tài nguyên có khả năng phục vụ hoạt động du lịch thuận lợi.
+ Loại 3: Các tài nguyên có điểm dưới 120,5 điểm. Đây là những tài nguyên có khả năng phục vụ hoạt động du lịch thấp hơn.
Bảng 5: Phân hạng khả năng phục
vụ hoạt động du lịch
của các điểm tài nguyên
|
Loại |
Tài nguyên |
|
Loại 1 (từ 160,25 đến 200 điểm) |
Đồi chè Tâm Châu; Thác ĐamB'ri |
|
Loại 2 (từ 120,5 đến 160,24 điểm) |
Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Đạ Nghịch dân tộc Châu Mạ; Múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ; Tranh thêu bướm Ánh Kim; Thác Đasara và Đạ Tôn; Vườn lan Trịnh Văn Sỹ |
|
Loại 3 (từ dưới 120,5 điểm) |
Vùng trồng dâu, nuôi tằm ở xã ĐamB'ri |
(Nguồn: Kết quả tổng hợp điểm từ phương pháp chuyên gia của Ban chủ nhiệm đề tài)
Trong đánh giá khả năng phục vụ hoạt động du lịch, tiêu chí về tính thời vụ được các chuyên gia cho điểm khác nhau ở các tài nguyên. Do các điểm tài nguyên mặc dù nằm trong cùng một vùng khí hậu giống nhau. Tuy nhiên, tính thời vụ của tài nguyên còn phụ thuộc vào quy mô, khả năng tổ chức các loại hình du lịch, mức độ cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất du lịch đã có. Đối với loại 1 tài nguyên có khả năng phục vụ hoạt động du lịch cao (Đồi chè Tâm Châu; Thác ĐamB'ri) đã được đầu tư, nâng cấp khai thác hoạt động và phát triển du lịch theo hướng bền vững nhiều năm qua. Đối với các điểm tài nguyên du lịch loại 2 tài nguyên có khả năng phục vụ hoạt động du lịch thuận lợi (Làng nghề dệt thổ cẩm thôn Đạ Nghịch dân tộc Châu Mạ; Múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ; Tranh thêu bướm Ánh Kim; Thác Đasara và Đạ Tôn; Vườn lan Trịnh Văn Sỹ). Đây là những điểm tài nguyên cũng đã được khai thác hoạt động du lịch trong thời gian qua, tuy nhiên tính bền vững và sức chứa ở các tài nguyên còn hạn chế, cần được đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, định hướng phát triển phù hợp với tình hình phát triển hoạt động du lịch của từng điểm tài nguyên. Đối với các điểm tài nguyên loại 3 khả năng phục vụ hoạt động du lịch tài nguyên thấp hơn (vùng trồng dâu, nuôi tằm ở xã ĐamB'ri), đây là những điểm tài nguyên riêng lẻ, đầu tư hoạt động du lịch chưa bền vững, sức chứa và tính thời vụ chưa cao, cần tính toán hợp lý giữa việc khai thác và phát triển du lịch bền vững, đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mở rộng sức chứa, nâng cao thời gian hoạt động du lịch ở các điểm tài nguyên này.
2. Các sản phẩm/dịch vụ trong mô hình
2.1. Khái quát các sản phẩm/dịch vụ trong mô hình
Qua kết quả khảo sát du khách cho thấy, du khách được hỏi về các sản phẩm đặc trưng của thành phố Bảo Lộc thì đa số du khách lựa chọn là sản phẩm tham quan đồi chè và văn hóa của người dân tộc Châu Mạ, bao gồm: ẩm thực, trang phục, nhạc cụ truyền thống, sử thi và phong tục, tập quán sinh hoạt của người Châu Mạ (xem thêm Bảng 6). Tham quan đồi chè có đến 48 lượt lựa chọn, trải nghiệm sinh hoạt, văn hóa người Châu Mạ có đến 40 lượt lựa chọn.
Bảng 6: Các sản phẩm du lịch đặc trưng của thành phố Bảo Lộc
|
Du khách nhận định về các sản phẩm du lịch đặc trưng của thành phố Bảo Lộc |
|||
|
Các sản phẩm |
Lượt lựa chọn |
Phần trăm
lượt |
|
|
Số lượng |
Phần trăm (%) |
||
|
1. Tham quan đồi chè |
48 |
27,6 |
76,2 |
|
2. Ẩm thực, trang phục người Châu Mạ |
37 |
21,3 |
58,7 |
|
3. Trải nghiệm sinh hoạt, văn hóa người Châu Mạ |
40 |
23 |
63,5 |
|
4. Nhạc cụ truyền thống của người Châu Mạ |
32 |
18,4 |
50,8 |
|
5. Sử thi của người Châu Mạ |
17 |
9,8 |
27 |
|
Tổng |
174 |
100 |
276,2 |
(Nguồn:
Tổng hợp từ kết quả khảo sát và điền dã thực địa đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu và
xây dựng mô hình du lịch dựa vào cộng
đồng tại tỉnh Lâm Đồng”, 4-2018).
Hiện nay ở Bảo Lộc xu hướng người dân tham gia du lịch cộng đồng đang trở nên phổ biến. Tuy biểu hiện dưới các hình thức khác nhau, mức độ tham gia nhiều ít có sự khác nhau ở các khu du lịch, điểm du lịch. Sản phẩm du lịch mà người dân tham gia nhiều nhất là các sản phẩm thủ công mỹ nghệ (50 lượt lựa chọn, chiếm 74,6%); chỉ dẫn cho khách du lịch có 40 lượt chọn (chiếm 32,3%). Người dân làm du lịch với sản phẩm homestay còn chiếm tỉ lệ thấp ở Bảo Lộc, biểu diễn văn nghệ, kịch hóa sân khấu là một sản phẩm hấp dẫn đối với du khách đặc biệt là du khách nước ngoài nhưng người dân tham vào sản phẩm này vẫn còn rất ít. Chỉ có tầng lớp thanh niên đồng bào dân tộc Châu Mạ, K'Ho tham gia nhưng công việc chỉ mang tính mùa vụ, không gắn bó lâu dài. Hiện nay ở Bảo Lộc có 2 đội múa cồng chiêng đang hoạt động, chủ yếu hợp đồng ngắn hạn với khu du lịch ĐamB'ri, chỉ biểu diễn khi có khách yêu cầu.
Từ đánh giá về các điểm du lịch/ tài nguyên du lịch kết hợp với ý kiến của du khách và người dân, chúng tôi xin đề xuất các sản phẩm và dịch vụ trong mô hình như sau: (Xem bảng 7)
Bảng 7: Khái quát về các sản phẩm và dịch vụ trong mô hình
|
Tên sản phẩm |
Mục đích |
Yêu cầu cơ sở vật chất/năng lực |
|
1. Tham quan và trải nghiệm đồi chè Tâm Châu |
- Tìm hiểu về cách trồng chè, thu hoạch và chế biến chè - Ngắm cảnh quan |
- Đảm bảo diện tích cho các hoạt động: diện tích trải nghiệm, tham quan; - Cung cấp các hoạt động trải nghiệm cho du khách: trang bị nông cụ, trang phục, phương tiện cần thiết để khách sử dụng dịch vụ trải nghiệm; - Không gian thoáng mát, xanh, sạch, đẹp; - Hệ thống giao thông đến mô hình và hệ thống giao thông nội bộ thuận tiện |
|
2. Tham quan |
- Ngắm cảnh quan thiên nhiên; - Tìm hiểu hệ sinh thái; - Tìm hiểu văn hoá, đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân tộc Châu Mạ và K'ho |
- Đảm bảo diện tích cho các hoạt động: diện tích trải nghiệm, tham quan; - Cung cấp các hoạt động trải nghiệm cho du khách, đảm bảo an toàn; - Hướng dẫn viên có kỹ năng kể chuyện về sử thi |
|
3. Đi bộ tham quan thác Đasara và bản làng Châu Mạ (Treking ven bằng đường rừng ven thác) |
Ngắm cảnh quan thiên nhiên, tìm hiểu về hệ sinh thái |
- Có người dân bản địa dẫn đường kèm theo kể chuyện về lịch sử của thác; - Hộ dân tộc Châu Mạ đồng ý cho du khách ngủ lại qua đêm |
|
4. Học nấu ăn/thưởng thức các món ăn đặc trưng của người Châu Mạ (ở thôn Đạ Nghịch hoặc bản gần thác Đasara) |
Tìm hiểu các món ăn và phong cách ẩm thực của người Châu Mạ |
Đội nấu ăn cần có kỹ năng xây dựng thực đơn phù hợp với khách và khả năng chi trả của khách. Kỹ năng tính toán để có lãi. |
|
5. Tham quan, trải nghiệm nghề dệt thổ cẩm và tập quán của gia đình người Châu Mạ ở thôn Đạ Nghịch |
- Xem và học quy trình dệt vải; - Quan sát tham dự tập quán ăn ở của người Châu Mạ |
- Học và sản xuất thêm các mặt hàng lưu niệm như túi xách, bao gối.... - Nghiên cứu thêm các đặc sản hàng hóa địa phương để khách có thể mua về làm quà (ví dụ thảo quả, bánh…) |
|
6. Biểu diễn văn nghệ truyền thống và múa cồng chiêng |
- Tìm hiểu văn hóa đặc trưng của đồng bào dân tộc Châu Mạ; - Giao lưu văn hóa giữa du khách và cộng đồng |
- Phải là người thôn bản có năng khiếu về văn nghệ; - Các tác phẩm biểu diễn phải là các câu chuyện về đời sống sinh hoạt, đời sống tinh thần của các dân tộc bản địa. |
|
7. Tham quan thôn làng, vườn trồng dâu nuôi tằm bản (Village walk) |
Tìm hiểu về cách trồng dâu, nuôi tằm ngắm cảnh quan và giao lưu với dân làng |
Thôn xóm sạch sẽ, không có rác bẩn |
2.2. Các sản phẩm/dịch vụ cụ thể trong mô hình
Từ đề xuất các sản phẩm du lịch ở bảng 9 kết hợp với phân tích, đánh giá các điểm tài nguyên/điểm du lịch ở mục 2, chúng tôi đề xuất các sản phẩm chính cụ thể là: tham quan và trải nghiệm đồi chè Tâm Châu; Tham quan, vui chơi tại thác ĐamB'ri; Tham quan, trải nghiệm nghề dệt thổ cẩm và tập quán của gia đình người Châu Mạ ở thôn Đạ Nghịch; Biểu diễn văn nghệ truyền thống và múa cồng chiêng của đồng bào dân tộc Châu Mạ và K'ho.
Bên cạnh các sản phẩm chính còn có các sản phẩm phụ, là Đi bộ tham quan thác Thác Đasara và bản làng Châu Mạ (Treking ven bằng đường rừng ven thác); Tham quan thôn làng, vườn trồng dâu nuôi tằm bản (Village walk)
Các sản phẩm chính kết hợp với các sản phẩm phụ hình thành các tour du lịch, thể hiện rõ ở phần vận hành tour du lịch.
*
* *
Như vậy các giá trị văn hoá của đồng bào dân tộc
Châu Mạ như múa cồng chiêng, dệt thổ cẩm là sản phẩm chính, cơ bản khi thu hút
sự tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch. Bên cạnh đó cần phát huy các sản
phẩm nông nghiệp như chè, cà phê kết hợp với tìm hiểu tập quán sản xuất, sinh
hoạt của đồng bào Châu Mạ vào mô hình, phát huy sự tham gia của cộng đồng vào
du lịch./.
(Tạp chí Văn hóa học số 6 (40) - 2018)
Bình luận
Bài viết cùng chuyên mục