Vấn đề giao lưu văn hóa Đông - Tây đầu thế kỷ XX ở Huế

Ngày đăng: 19/10/2026 Lượt xem: 11
Mặc định Cỡ chữ

VẤN ĐỀ GIAO LƯU VĂN HÓA ĐÔNG - TÂY

ĐẦU THẾ KỶ XX Ở HUẾ

TS. Trần Đình Hằng

1. Mở đầu: duyên nợ Pháp - Việt

Đầu thế kỷ XIX, quá trình tái lập vương triều Nguyễn từ đời Gia Long là thành quả của nhiều nguyên nhân, trong đó có sự bén duyên, tác hợp Pháp - Việt một cách chính thức, lâu dài, kể từ câu chuyện giám mục Bá Đa Lộc, hoàng tử Cảnh v.v... Từ đó, ảnh hưởng của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa và văn minh Đông - Tây đã có sự lan tỏa, phát huy ngày một rõ nét, mang đậm dấu ấn vùng miền giữa xứ Bắc Kỳ, Nam Kỳ và Trung Kỳ, trên nhiều khía cạnh: giao thương, văn hóa, giáo dục, kỹ nghệ...

Điểm đặc biệt cần chú ý trong sắc thái vùng miền ở đây, Huế/Trung Kỳ là Kinh đô của nước Đại Nam/xứ An Nam nên vai trò, ảnh hưởng qua lại giữa chính sách thuộc địa, bảo hộ của Pháp và thế ứng xử của Nam triều đã tạo nên nhiều hệ quả, dấu ấn đặc trưng, khác biệt so với ở Bắc kỳ, Nam kỳ.

Vua Gia Long dù muốn dù không, vẫn phải chịu ơn và trả nghĩa cho người Pháp trong chuyện trợ lực để giải quyết vấn đề Tây Sơn, đặc biệt là với tư cách của bậc thiên tử, lại được nuôi dưỡng bởi khí chất trượng nghĩa, hào sảng trong môi trường văn hóa Nam Bộ. Xu hướng mở rộng thuộc địa, tìm kiếm thị trường của các nước thực dân, tư bản ngày càng nổi bật và phương Đông là những thành trì màu mỡ cần công phá trước tiên, dưới nhiều danh nghĩa, lớp áo thương mại, tôn giáo, chuyển giao khoa học công nghệ v.v... Cuộc đụng độ văn minh Đông - Tây với nhiều sự khác biệt đến cách biệt, từ đó, đã làm cho vua Gia Long nhìn thấu được nhiều nguy cơ có thể làm nguy hại tới vận mệnh đất nước. Cho nên, trước ngã ba đường như vậy, vua Gia Long đã có sự chọn lựa đồng minh truyền thống là thiên triều phương Bắc. Các ân nhân, chuyên gia người Pháp sau cuộc khải hoàn, được ban thưởng trọng hậu mà hoàn toàn không được trọng dụng trong thực tế và lần lượt muốn trở về mẫu quốc. Bi kịch hoàng tử Cảnh gắn liền với trọng án liên quan tới các đại công thần Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt có thể coi là điển hình cho vấn đề này. Thế ứng xử đó, dần có sự gia tăng rạch ròi qua các triều đại Minh Mạng, Thiệu Trị, cụ thể là từng bước cứng rắn đối với vấn đề truyền đạo (cấm, sát), và đỉnh điểm ở thời Tự Đức. Tất cả, đã trở thành duyên cớ cho người Pháp can thiệp vũ lực vào Việt Nam, từ năm 1858, để rồi có sự phân định chiến lược, chính sách cụ thể đối với ba miền trên đất nước Đại Nam, theo từng cấp độ là xứ thuộc địa, xứ bảo hộ. Ngay chính trong xứ bảo hộ, cũng có sự khác nhau căn bản giữa Bắc Kỳ, với quyền hành rộng lớn của Phủ Thống sứ, so với Trung Kỳ, vẫn hiện diện Nam triều, trong tương quan vai trò khiêm tốn hơn của Tòa Khâm sứ.

Sự biến thất thủ Thuận An năm 1883 và thất thủ Kinh đô năm 1885 được coi là mốc son quan trọng cho thấy sự vỡ ra của xã hội Việt Nam truyền thống trước sự can thiệp vũ lực của phương Tây. Trong tình hình đó, xã hội Việt Nam có sự phân hóa ngày càng rõ rệt giữa phải chủ chiến và chủ hòa, xu hướng thủ cựu và canh tân, với nhiều biểu hiện cụ thể, sinh động. Nhưng rõ ràng là trong bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, các biểu hiện của xu hướng chủ chiến đều dẫn đến kết cục bi thảm là lưu đày viễn xứ hoặc tắm trong máu, với những cái tang tập thể. Những biến động đó càng ảnh hưởng sâu rộng, rõ nét trong tâm thức Huế, góp phần làm nên thế ứng xử đặc trưng trong giai đoạn chuyển tiếp này.

Do vậy, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà các vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn như Thành Thái, Khải Định, Bảo Đại, lại nổi lên khát vọng của xu hướng canh tân mở cửa, từ giáo dục, cho dù hơi muộn mằn. Các trường Canh Nông, Hậu bổ, Kỹ nghệ thực hành, Trường Quốc học, Trường nữ học bản xứ, Trường Đồng Khánh, Trường Pháp - Việt v.v... ra đời trong bối cảnh đó, với khát vọng mở đầu cho công cuộc canh tân, từ chính vấn đề con người, để theo kịp thời đại (1). Âu hóa, Tây học, từ đây, trở thành một khía cạnh nổi bật trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, gắn liền với những nhân vật, gia thế cụ thể (2). Vấn đề bản sắc và ý thức dân tộc, bản lĩnh quốc gia, càng có cơ hội để thử thách, thể hiện và phát huy, từ cả hai phía: Việt, Pháp. Một văn bản thời Thành Thái đã đề cập đến vấn đề này khi Phủ Phụ chính gửi Toàn quyền Đông Dương và được chấp nhận, yêu cầu các quan Pháp tôn trọng lễ tục nước Nam khi đến các nơi lăng tẩm miếu điện của bản quốc (3).

Trong quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa và văn minh Đông - Tây ở Huế, vai trò của văn hóa và giáo dục, đặc biệt là từ yếu tố con người, do vậy, trở nên rất nổi bật. Người Pháp tôn trọng di sản văn hóa Nam triều và vấn đề ý thức bản sắc, bản lĩnh dân tộc, nên quá trình tương tác diễn ra trong giới hạn tương thích có thể, để lại một số thành tựu đặc trưng, trong đó nổi bật lên di sản văn hóa và giáo dục, mà B.A.V.H là một trong những ví dụ nổi bật.

2. Tiếp xúc văn hóa, văn minh Đông - Tây ở Huế: một số khía cạnh tiếp cận

Xét tổng quan, thì Kinh đô Huế cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX chịu nhiều tác động ảnh hưởng của một cuộc khủng hoảng toàn diện, cả về quân sự lẫn chính trị, xã hội, đặc biệt là sau các sự biến thất thủ trước sự hiện diện của người Pháp. Đồn Mang Cá ở bờ Bắc sông Hương và Tòa Khâm sứ Trung Kỳ, cùng hệ thống các công sở hành chính phía bờ Nam sông Hương của người Pháp ra đời và có tầm ảnh hưởng ngày càng sâu rộng trong đời sống chính trị - xã hội đương thời, với trung tâm là đường Jules Ferry (4) (nay là đường Lê Lợi).

Huế trong bối cảnh đó, về cơ bản, càng được khắc họa rõ nét sự đăng đối, hài hòa cấu trúc truyền thống - hiện đại dọc theo đôi bờ sông Hương: khu Kinh thành và khu phố Tây. Sự hiện diện của các công trình kiến trúc Pháp ở ngay chính trên đất Kinh đô Huế của nước Đại Nam, cho đến hiện nay, vẫn được coi là thành công nhất trong khả năng hòa nhập, đồng điệu với di sản văn hóa truyền thống bản địa, từ hệ thống tư gia, công sở cho đến những công trình đơn lẻ, như ga Huế, khách sạn Guérin Huế/khách sạn Anh em nhà Morin (Hôtel Guérin de Huê/Hôtel Morin Frères), cầu Trường Tiền, hay nhà máy nước gần khu vực lăng Tự Đức, thậm chí còn lan tỏa ảnh hưởng và hiện diện trong đời sống cung đình Nguyễn, như cung An Định, lăng Khải Định, lầu Kiến Trung... Nhiều tài liệu còn cực đoan cho rằng vua Khải Định là một ông vua lai căng bởi sự tiếp thu văn minh Tây phương đó.

Việt Nam là một xứ sở nhiệt đới, chịu sự chi phối mạnh mẽ của văn minh nông nghiệp lúa nước nên suốt diễn trình lịch sử văn hóa dân tộc, ít để lại được nhiều những công trình vật chất qui mô lớn. Cho đến thời chúa Nguyễn, hay vua Nguyễn sau này, nguồn thu cho ngân sách quốc gia, chủ yếu vẫn là từ nông nghiệp, vốn không mấy giàu có, dồi dào. Chính vì vậy, có khi ngân sách quốc gia thu vào, chỉ đủ chi ra và nhiều năm, còn không đủ bù. Trên một nền tảng chung như vậy, lịch sử và văn hóa Việt Nam đã có phương thức hóa giải, sự cân bằng trở lại ở ngay chính từ những công trình: không có điều kiện nên ít chú ý tới tầm vóc, qui mô vật chất của nó mà thăng hoa nhiều trên ý nghĩa biểu tượng, tâm linh tinh thần, vào chiều sâu của nó, đặc biệt là thông qua nghi lễ, theo phương thức thiêng hóa.

Xem xét vấn đề này trong bối cảnh vỡ ra của xã hội truyền thống, nhất là trong cuộc đụng độ văn minh Đông - Tây, cụ thể là Việt - Pháp ở Huế giai đoạn cận hiện đại này, đã nảy sinh, hình thành nhiều thành quả, trở thành di sản đặc trưng, gắn liền với ý thức dân tộc, bản lĩnh quốc gia, cho dù là trong thời kỳ Nguyễn mạt. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh tới ba câu chuyện: thất thủ kinh đô, lễ hưng quốc khánh niệm và đài chiến sĩ trận vong.

Suốt hành trình Nam tiến, rồi đến cuộc chiến dai dẳng, khốc liệt Đàng Trong - Đàng Ngoài…, miền Trung - xứ Huế phải liên tục hứng chịu biết bao thăng trầm tang thương của lịch sử. Tất cả đã tạo nên những dư chấn tâm lý - tâm linh nặng nề, dễ gây nên hoang mang, chao đảo… trong cuộc sống Đời, đòi hỏi sự bổ sung, giải quyết triệt để bằng Đạo - liệu pháp tâm linh thông qua nghi lễ: tín ngưỡng dân gian bản địa, Đạo giáo và Phật giáo v.v… Do đó, có thể thấy được tác động nặng nề của dư chấn tâm linh thất thủ Kinh đô 23-5-Ất Dậu (1885) đối với Huế. Chỉ sau một đêm, cả Kinh thành tắm trong máu. Tử thi chồng chất khắp nơi bởi sự kháng Pháp bất thành của phái chủ chiến, người Pháp điên tiết trả thù bằng mọi giá lúc phản công nhằm vào chủ yếu là dân thường vô tội. Đám tang, mồ - hố chôn tập thể trở thành hiện tượng phổ biến. Có lẽ chỉ ngay sau cái đêm định mệnh nghiệt ngã, khốc liệt đó, người ở lại đã phải vô cùng vất vả trong việc giải quyết đại hậu sự, bao gồm cả việc lo lắng cho phần Xác lẫn phần Hồn. Ngoài nghĩa trang Ba Đồn, mọi nơi thấp trũng trong Kinh thành Huế đều có thể trở thành mồ mả bởi khó có thể giải quyết trong thời gian ngắn. Quan trọng hơn, nhà nhà, xóm xóm và cả Kinh thành, đều phải lo nghĩ đến chuyện cúng bái cho những oan hồn chết thảm như đang nằm, đang vất vưởng quanh quẩn, đến mức thường trực… Đáng chú ý là hai đại đàn âm hồn ở ngã tư Âm hồn và ở đường Ông Ích Khiêm hiện nay. Cả Kinh thành điêu tàn, tán loạn tận tâm can chủ nhân đất Thần kinh. Mãi cho đến một năm sau, tình hình vẫn còn rất nặng nề, nên Bộ Lễ mới có tấu sớ nhấn mạnh rằng cả Kinh thành như còn “nặng mùi” và sự sợ hãi, lo lắng vẫn bao trùm cuộc sống của người dân, mong được Hoàng thượng châu phê cho việc lập đàn cúng tế những oan hồn ngày Kinh đô thất thủ (5). Đó là khởi nguyên của lệ cúng tế 23 tháng 5 ở Huế và có lẽ từ đó, lệ cúng tế này được tổ chức suốt từ ngày 22 đến cuối tháng 5.

Mặc dù các đàn Âm hồn chỉ hiện diện với qui mô không lớn nhưng sự kiện đó đã thực sự đi vào tâm thức Huế, được cố định và thiêng hóa dưới nhiều hình thức: được định danh thành ngã tư Âm hồn, miếu Âm hồn, và đặc biệt là lễ tế âm hồn mà nhà nhà, xóm xóm đều tổ chức, rải rác suốt cả tuần. Chính vì vậy, có thể coi đây là một phương thức, một loại hình “tượng đài” đặc trưng trong đời sống văn hóa truyền thống Việt, để sống mãi trong nghi lễ. Phương thức này dễ dàng được nhận thấy phổ biến trong đời sống nghi lễ của làng xã cho đến quốc gia, như có tỷ lệ nghịch giữa hình thức, biểu hiện vật chất và nội dung, giá trị tinh thần của nghi lễ. Khảo sát văn tế và nghi thức thờ phụng, cũng là chìa khóa tìm hiểu diện mạo lịch sử và văn hóa Việt Nam một cách hữu hiệu.

Cho dù trên thực tế, đất nước đã bị nạn ngoại xâm dưới danh nghĩa thuộc địa hay đất bảo hộ của quốc mẫu Đại Pháp, nhưng rõ ràng là các vị hoàng đế thời Nguyễn mạt, trên phương diện tinh thần và nghi lễ, vẫn thể hiện rõ được chủ trương nâng cao ý thức dân tộc cũng như bản lĩnh quốc gia. Từ đó, có thể hiểu thời Tự Đức, tại sao triều đình lại ban cấp hàng loạt sắc phong cho các vị thần thành hoàng bổn thổ/cảnh/xứ cho khắp các làng xã Lục tỉnh Nam kỳ và tiêu biểu, là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nghi lễ Hưng quốc Khánh niệm được đặt ra từ thời Khải Định.

Trong bối cảnh giao lưu quốc tế, ý thức quốc gia và khát vọng độc lập của các vua Nguyễn được khẳng định sâu sắc ở khía cạnh tinh tế này. Thực ra, từ thời Thành Thái (tháng giêng năm Tân Sửu 1901), vấn đề này đã được khởi xướng (6) nhưng chính thức đến đời Khải Định, mới được thi hành. Tháng 2, Mậu Ngọ, năm thứ 3 (1918), cho lấy ngày 2-5 làm ngày kỷ niệm và đến tháng 4 năm sau (Kỷ Mùi, 1919), ban dụ đổi làm ngày lễ Hưng quốc khánh niệm (7) với nhiều ý nghĩa sâu xa, cao cả, trở thành một ngày đại lễ tại Kinh đô Huế của đất nước Đại Nam (8).

Cũng trong xu hướng Âu hóa đó, thiết nghĩ cũng nên đề cập đến một vấn đề quan trọng đầy mới mẻ là sự ra đời của một công trình lịch sử trong tâm thức Huế: Đài chiến sĩ trận vong (Monument aux Morts), bởi đây đúng là một công trình tiêu biểu, theo lý thuyết tượng đài theo văn minh Tây phương (Les lieux de Mémoire). Từ đây, trên phông nền chung của văn hóa và văn minh Việt, chủ yếu nặng về “tượng đài” nghi lễ như phần trên đã đề cập, đã xuất hiện những công trình vật chất chứa đựng nhiều ý nghĩa biểu tượng.

Đó là một công trình “Toàn bộ đều mang vẻ đẹp lạ lùng, đẹp và gợi nên cảm hứng rất An Nam, kể cả cái vẻ uy nghiêm bởi cái đồ sộ của nó và tính cách giật lùi thời gian mà tầng nền rộng lớn ở phía trước nó đem lại”. Trước đây, ngày 2-11 là lễ Trận vong chiến sĩ nên trước ngày 1-11, tòa Sứ Thừa Thiên phải chăm sóc, quét lại một lớp vôi và sơn lại những màu đã quá phai nhòa để có thể đọc được tên của những người tử trận: 31 cái tên của những thanh niên Pháp được chọn lựa trong số những người đã sống ở Huế hoặc Trung Kỳ vào năm 1914 và 78 tên của người Việt sống trong các tỉnh Trung Kỳ “đã nói lên rằng chúng ta cũng đã trả một thứ thuế quá nặng cho Thần chiến tranh để cho nước Pháp có thể tiếp tục sống tự do và mạnh” (9).

Công trình này được hình thành từ ý tưởng sơ khởi của ông Orband, Chủ tịch Hội Đô thành hiếu cổ, nhằm làm nổi bật những tình cảm biết ơn của Hội đối với người đã mất và ông thường nêu trong các cuộc họp hàng tháng từ 1914-1918, được các đại thần hỗ trợ, đặc biệt là ông Nguyễn Đình Hòe. Sau đó, khởi sự thành dự án xây dựng một công trình duy nhất cho tất cả những người Pháp và người Việt chết cho nước Pháp. Nghị định ngày 24-7-1919 của Khâm sứ Trung Kỳ Tissot chỉ định các thành viên một Ủy ban nghiên cứu xây dựng một công trình tưởng niệm những người tử trận, do Khâm sứ hay người đại diện làm trưởng ban, Bogaert làm phó trưởng ban. Về hình thức thể hiện, ông Nguyễn Đình Hòe đề nghị tấm bia ấy nên thay thế bằng một bình phong theo kiểu thức địa phương bản xứ. Sau đó, người ta đề nghị cuộc hợp tác vẽ đồ họa phải được mở ra cho những người bản xứ. Kết quả là có 4 hồ sơ tham dự được mang ra chấm, với Hồ sơ số 3 được giải nhất, của ông Tôn Thất Sa, giáo sư ở Trường Bá công Huế, cùng giải thưởng 80$. Công trình được khánh thành ngày 23-9-1920 (10).

Ở nhiều khía cạnh cụ thể hơn, có thể nhận thấy được điều đó trong vấn đề giao thông, tư pháp, và đặc biệt là trong giáo dục, văn hóa... Chính sách thuộc địa luôn bao gồm phương thức và tâm thế bình định lẫn đồng hóa, áp đặt. Do vậy, nhiều thiết chế hành chính được thiết lập, nguyên ủy, đều là công cụ chính thức của chính quyền thực dân phương Tây để hoàn thành sứ mạng, trọng trách chính trị, hành chính đó. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là trong quá trình triển khai thực hiện, khả năng phát huy vai trò, năng lực, nhất là thái độ tôn trọng di sản văn hóa bản địa của đội ngũ quan chức, nhân viên nước Đại Pháp lẫn bản xứ đã góp phần quan trọng trong việc giảm sốc và dung hòa dần, thu hẹp khoảng cách của cuộc đụng độ văn minh Đông - Tây. Truyền thống dung hợp, yếu tính mở của văn minh Việt, lại tiếp tục phát huy trong giai đoạn lịch sử quan trọng này.

Trong quá trình giảm sốc đó, sau những động thái vũ lực, để lại những “tượng đài” lịch sử hữu hình lẫn vô hình trong lễ nghi, văn minh phương Tây đã từng bước khẳng định được phương thức và tính hiệu quả của nó trong công cuộc “khai hóa văn minh” bản xứ, thông qua những công trình cụ thể và đặc biệt là trong vấn đề con người, từ văn hóa và giáo dục. Tinh hoa Hán học truyền thống kết hợp với Tây học trong giai đoạn này, đã đem lại cho văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa Huế nói riêng một nét mới, góp phần quan trọng trong việc đưa đất nước hội nhập với thế giới hiện đại. Những cây cầu, những con đường, những ngôi trường và những sách báo, tạp chí... đóng vai trò tiên quyết.

Trong giao thương, hệ thống quốc lộ 1, cho đến đường 7, 8, 9, 14... (11) ở miền Trung, nối kết đất nước cả theo chiều Nam - Bắc lẫn Đông - Tây (núi - biển) trên cơ sở những con đường thiên lý, đường mòn của cư dân bản địa; những cây cầu bê tông nối kết đôi bờ sông sâu rộng như cầu Long Biên, cầu Trường Tiền v.v... đã có sự thuyết phục, thực sự đi vào lòng người Việt Nam vốn quen lối “qua sông lụy đò”. Nước ta, nhất là ở miền Trung, xứ sở của sự chia cắt - nối liền bởi vô vàn những hằng số địa lý: đèo núi, sông suối, ao hồ, cồn bàu… Từ sự chia cắt và chi phối của điều kiện địa lý tự nhiên, dẫn đến những tác động ảnh hưởng trong việc hình thành nếp nghĩ suy, tư duy, thế ứng xử của con người trước tự nhiên cũng như nhân quần xã hội. Do vậy, đã tồn tại rất nhiều khoảng cách địa lý từ tận tâm khảm của con người nơi đây, hình thành nên những khoảng cách tâm lý đến mức những tưởng xa xôi, rất khó vượt qua. Từ đó, để thấy tác động ảnh hưởng to lớn vượt bậc ở xứ Thần kinh, khi người Pháp với những biểu hiện cụ thể của kỹ nghệ và văn minh phương Tây, như đường nhựa, đường sắt, cầu sắt…, đã góp phần đặc biệt quan trọng làm thay đổi thực tại đến mức khó hình dung, làm chấn động tâm lý Huế, để lại nhiều dư chấn ảnh hưởng mạnh mẽ. Tất cả, ngày càng phát huy vai trò mạnh mẽ, giàu sức thuyết phục, nhanh chóng trở thành biểu tượng mới của Kinh đô, tồn tại bền vững cho đến tận ngày nay, điển hình như trường hợp cầu Trường Tiền.

Có thể thấy rõ trong lịch sử giao thông truyền thống Việt Nam, thuyền bè là phương tiện đắc dụng, phổ biến. Nên mãi về sau, khi các phương tiện xe cộ hiện đại của văn minh phương Tây được du nhập ngày càng phổ biến thì trong ngôn ngữ dân gian, vẫn quen dùng xe đò. Trên nhiều phương diện, để chỉ một sự lệ thuộc nào đó, người ta vẫn thường nói “qua sông lụy đò”. Chỉ ở những đoạn khe suối hay sông ngòi, kênh mương nhỏ, kỹ thuật Việt cổ truyền mới đủ điều kiện để xử lý cầu, phổ biến dưới dạng bản kiều (cầu ván). Nhu cầu giao thông, trao đổi buôn bán ngày càng lớn, nhờ tác động ảnh hưởng của văn minh phương Tây, hai cầu sắt đầu tiên ở Huế được xây dựng: cầu sắt Đông Gia (tháng 9 năm Nhâm Thìn, Thành Thái 4-1892) và ba năm sau (tháng 7 năm Ất Mùi, Thành Thái 7-1895), làm cầu sắt An Cựu (12).

Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là những chiếc cầu có qui mô khiêm tốn, thay thế cầu ván bắc qua sông đào Đông Ba và sông An Cựu, mà trên sông Hương, vẫn chưa có cầu sắt. Mãi đến tháng 9 năm Bính Thân (Thành Thái 8 - 1896), nhà vua mới ban dụ xây cầu sắt bắc qua sông Hương. Tháng 10 năm Mậu Tuất (Thành Thái 10 - 1898), nhà vua ngự giá lên cầu làm lễ hành thiết thạch lễ (đặt đá). Tháng 10 năm Canh Tý (Thành Thái 12 - 1900), lễ khánh thành cầu được tổ chức, có quan Toàn quyền Doumer tới dự (13).

Cầu sắt bắc qua sông Hương từ thời vua Thành Thái chính là cây cầu nối nhịp đôi bờ sông Hương và bắc nhịp Đông - Tây hội ngộ đó, cụ thể là do kỹ sư Alexandre Gustave Eiffel thiết kế (tác giả của tượng nữ thần Tự Do ở New York, Bưu điện Trung tâm Sài Gòn…), người Pháp tham gia xây dựng (14). Và ở đây, dân gian kịp thời ghi nhận dấu ấn đặc biệt này qua nhiều giai thoại, thơ ca, hò vè, như:

Ngày xưa vua Việt cầm quyền

Cớ sao không bắc [cầu] Trường Tiền mà qua

Trách Tây hay đánh thuế ta

[Cầu] Trường Tiền Tây bắc, [Tây] không qua một mình (15).

Một khía cạnh quan trọng nữa, chính là giáo dục, với một hệ thống giáo dục tân tiến của nước Pháp lần đầu tiên được áp dụng, tiêu biểu là trường Quốc học. Quốc học không chỉ là biểu tượng Tây học đầu tiên của Huế mà quan trọng hơn, là của cả đất nước Đại Nam, xứ Trung Kỳ, được đặt tại Huế. Từ những nền tảng đầu tiên với trọn vẹn ý nghĩa bước ngoặt lớn lao đó, tính chất tân - Tây học tiên phong cộng với di sản cựu - Hán học tinh hoa, Quốc học trở thành biểu tượng nổi bật cho truyền thống khoa bảng Việt Nam, vượt bậc khỏi địa giới hành chính địa phương vùng Huế, mang tầm quốc gia và quốc tế, với lớp lớp thầy và trò tài năng, từ cả nước hội tụ về. Trong bối cảnh vỡ ra của xã hội truyền thống trước ảnh hưởng của văn minh phương Tây, vấn đề cựu học và tân học trở thành nguồn cơn của sự ra đời Trường Quốc học ở Huế, cùng với sự hiện diện gần như hiếm hoi, đồng thời của hai ngôi trường tương tự ở Đà Nẵng, Vinh. Tất cả, nhằm thiết thực bổ sung cho Quốc Tử giám, Trường Hành nhân trong nền giáo dục truyền thống, nhằm đào tạo nhân lực, nhân tài phục vụ đất nước trong bối cảnh mới. Chính nhờ tính chất điển hình tiên phong, trên qui mô toàn xứ Đông Dương và cả đất nước Đại Nam, đại diện tiêu biểu cho môi trường giáo dục Tân học - Tây học ngay từ lúc thai nghén, trải qua thời kỳ đầu tiên và trở thành tôn chỉ, sức thu hút trên tầm quốc gia, vùng miền, tạo thành nguồn lực trọng tâm chi phối..., mới làm nên bóng dáng riêng có của Trường Quốc học Huế xuyên suốt lịch sử hình thành và phát triển. Nhờ đó, tài năng và tầm ảnh hưởng của thầy và trò Trường Quốc học Huế mới được ươm mầm, phát huy ảnh hưởng ngày càng cao hơn, xa hơn, trên tầm quốc gia, khu vực và quốc tế, từ những trang sử đầu tiên cho đến hiện nay (16).

Sự dung hòa yếu tính Đông - Tây “hội ngộ” đó được thực hiện, nuôi dưỡng trong môi trường giáo dục của nhà trường và gia đình, với đặc điểm nổi bật là tinh hoa cựu học truyền thống hòa quyện và phát huy cùng tinh hoa tân học, hoàn toàn không có sự loại trừ nhau một cách cực đoan. Gia đình Thân Trọng ở Huế là một minh chứng, nổi danh từ nhân vật du học Pháp đầu tiên là Thân Trọng Huề, về sau còn có ông Đốc Thân Trọng Phước, ông giáo Thân Trọng Ninh v.v... Đây là một trong những khía cạnh quan trọng khi tìm hiểu về vấn đề gia giáo, gia phong trong văn hóa Huế cũng như văn hóa truyền thống Việt Nam.

Người Pháp đặc biệt coi trọng sứ mệnh lịch sử và văn hóa cao cả của xứ Đông Dương/Đông Pháp (Union Indochinoise, Indochine française), với nhiều chính sách đồng bộ, từ việc xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, du nhập công nghệ hiện đại tân tiến và đáng chú ý là các chính sách liên quan tới vấn đề văn hóa và giáo dục. Tất cả thể hiện rõ một vấn đề quan trọng trong giai đoạn hiện nay, đó là chính sách ngoại giao văn hóa, mà từ các công chức thuộc địa, nhà tư bản hay nhà truyền giáo, cho dù trong tâm thế thực dân hay trí thức bác học, đã thể hiện rất thành công. Không khí và trào lưu học thuật tân tiến của phương Tây, từ đó, có cơ hội bén duyên, cộng hưởng với tinh hoa cựu học truyền thống Việt Nam, đã đem lại nhiều thành tựu nổi bật, trên nhiều phương diện.

Bước ra từ các ngôi trường danh tiếng như Trường Thuộc địa Paris (École Coloniale), các trường dòng của Giáo hội La Mã, những người Pháp đến với Đông Dương có một nền tảng tri thức đặc biệt quan trọng trong việc tiếp xúc với văn hóa, văn minh Á Đông. Các hội đoàn học thuật châu Âu, trong bối cảnh đó, dần dần được hình thành và phát huy vai trò ảnh hưởng. Trong đó, trước tiên phải kể đến vai trò nổi bật của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp (École Française d’Extrême - Orient), Hội Nghiên cứu Đông Dương (Société des études Indochinoises), Hội Đô thành Hiếu cổ (Association des Amis du Vieux Hue)v.v..., gắn liền với những tập san - cơ quan ngôn luận nổi tiếng đương thời, lần lượt là: Tập san Trường Viễn Đông bác cổ Pháp (Bulletin de l’École Française d’Extrême - Orient - B.F.E.O), Tập san Hội Nghiên cứu Đông Dương (Bulletin de la société des études Indochinoises de Saigon - B.S.E.I), và Tập san của Hội Đô thành Hiếu cổ (Bulletin des Amis du Vieux Hue - B.A.V.H) v.v...

Chính từ đây, có thể coi các công trình nghiên cứu trong các tập san này, gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp nghiên cứu của các học giả Pháp, Việt, đã mở ra, đặt tiền đề, nền móng quan trọng cho vấn đề nghiên cứu Việt Nam, nghiên cứu miền Trung, nghiên cứu Huế, trên nhiều phương diện: Chăm Pa học, phong tục học, tôn giáo tín ngưỡng, nghệ thuật tạo hình (mỹ thuật, kiến trúc), nghệ thuật diễn xướng v.v... Hơn nữa, di sản văn hóa Việt Nam luôn được xem xét trong bối cảnh rộng lớn, với nhiều hoạt động bổ trợ, mà đến nay, đối với nghiên cứu Huế hay nghiên cứu Việt Nam, vẫn còn nhiều bài học kinh nghiệm: vấn đề nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, hoạt động nghiên cứu v.v... luôn bao gồm, gắn liền chuỗi hệ thống các công việc liên quan đến bảo tàng, thư viện, dựng tượng đài...

3. Vấn đề đặt ra

Chính quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa, văn minh Đông - Tây hồi cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đã để lại nhiều di sản quí giá, trên nhiều phương diện, cho đất nước Việt Nam nói chung và xứ Huế nói riêng. Hơn lúc nào hết, chính sự đụng độ giữa hai nền văn minh, văn hóa đó là một ngoại lực đặc biệt quan trọng, một cơ hội lớn để kiểm nghiệm, thức tỉnh và làm giàu thêm cho di sản văn hóa Việt Nam, văn hóa Huế. Nhìn nhận thành quả, sự tác động của quá trình tương tác này, cần một thái độ tỉnh táo, biện chứng, tránh xu hướng cực đoan trong khen, chê một cách phiến diện.

Xem xét trong bối cảnh tổng thể như vậy thì có thể thấy cụ thể từ B.A.V.H, văn hóa Huế đã chính thức được đề cập đến trong một đề cương nghiên cứu tổng thể, với nhiều vấn đề và hoạt động phong phú, đa dạng. Trong mục đích tôn chỉ của Hội Đô thành Hiếu cổ, vấn đề nổi bật là sưu tầm, bảo tồn và truyền đạt những dấu tích xưa về chính trị, tôn giáo, nghệ thuật và văn học châu Âu cũng như bản xứ, liên quan đến Huế (Điều lệ Hội, Khoản 2). Ngoài ra, Hội còn khẳng định qua các hoạt động quan trọng nổi bật khác như dựng bia tưởng niệm, hỗ trợ các bảo tàng đã có hoặc xây dựng mới, thực hiện những bộ sưu tập ảnh hay tranh in, ủy thác và tài trợ các công trình nghiên cứu. Gắn liền với Hội là các chương trình xây dựng thư viện, bảo tàng và cả các trường mỹ thuật mang sứ mạng đặc trưng, thậm chí còn xây dựng nên cả một Chương trình giáo dục mỹ thuật Việt...

Mở rộng hơn, dấu ấn của quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Việt - Pháp ở Việt Nam, ở miền Trung và cụ thể là ở Huế, là rất rõ nét. Vấn đề đặt ra hôm nay là cần khẳng định giá trị của di sản và thái độ đối với di sản. Trong bản đề cương nghiên cứu và kết quả nghiên cứu, thực hiện đề cương đó, chúng ta nhận ra được nhiều thành quả cụ thể lẫn những câu chuyện, chương trình nghiên cứu còn dang dở, để khẳng định lại, điều chỉnh cũng như kế thừa, tiếp tục nghiên cứu bổ sung.

Tất cả, đó là tấm gương, là thành quả, là bài học kinh nghiệm vô cùng quí giá cho Huế trong vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống trong cuộc đụng độ văn minh lớn lần thứ 2 - đầu thế kỷ XXI, đòi hỏi sự nỗ lực lớn, đào tạo, nghiên cứu bài bản, đầy tâm huyết của các hội đoàn mang đậm tính chất học thuật, với những cơ quan ngôn luận đặc biệt, như B.A.V.H hồi đầu thế kỷ XX./.

T.Đ.H

(Tạp chí Văn hóa học, số 4 (20) - 2015)

___________________

1. Trần Đình Hằng (2013), “Sự ra đời của Trường Quốc Học Huế: sự chuyển đổi từ cựu học sang tân học”, Xưa & Nay (H.: Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam), số tháng 10.

2. Hai nhân vật được triều đình chính thức cho du học tại Paris (Pháp) là Thân Trọng Huề (con cố Tổng đốc Thân Văn Nhiếp) và Hoàng Trọng Phu (con Kinh lược đại thần Hoàng Cao Khải) từ năm Thành Thái I (Kỷ Sửu-1889) đến tháng 7, Ất Mùi Thành Thái 7 (1895), trở về, được bổ làm Hàn lâm viện Biên tu, thuộc Cơ mật viện, sau đó sung làm Thị thư ở điện Quang Minh, luân phiên tiến giảng, mỗi ngày thứ bảy thì sung làm thông dịch hội thương (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2011, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, S.: Nxb. Văn hóa - Văn nghệ [Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu], tr.234.

3. Sự kiện diễn ra vào tháng 11, Giáp Ngọ Thành Thái 6 (1894) (Quốc sử quán triều Nguyễn (2011), Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, tlđd, tr. 216).

4. Jules François Camille Ferry (1832-1893), thủ tướng Pháp hai nhiệm kỳ, trong khoảng thời gian 1880-1885, người có vai trò quan trọng trong việc tổ chức viễn chinh, thiết lập nền thuộc địa của Pháp tại Đông Dương.

5. Sử sách ghi nhận hồi tháng 3 năm Đồng Khánh nguyên niên (1886), Kinh kì không mưa, Nguyễn Thuật tâu trình từ thượng tuần tháng này, thời tiết khô hanh không mưa, khí trời không thuận khiến dân chúng quanh thành nhiều người bị cảm nhiễm. Trộm nghĩ vì tháng 5 năm ngoái, Kinh thành xảy ra sự biến, binh lính và dân chúng bị súng bắn lửa thiêu, số người bị chết lên tới hàng nghìn. Ngày xưa chỉ một người đàn bà hàm oan chết đi còn dẫn tới thời tiết bất thuận, huống đây lại là cái tang của cả nước, làm sao mà không gây ra tai chướng. Khẩn thiết xin sắc cho bộ Lễ cùng với các quan phủ Thừa Thiên chọn một nơi sạch sẽ ở nội ngoại thành dựng đàn cử hành một phiên tế lễ, rồi sau đó cứ một năm một lần, Bộ và Phủ đó ghi nhớ theo thế mà tiến hành (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2010, Đồng Khánh Khải Định chính yếu, H.: Nxb. Thời đại - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, tr. 126).

6. Có sắc nói nước ta trung hưng tính từ năm Gia Long 1 đời Thế tổ Cao hoàng đế, đến nay đã được 100 năm, sai phủ Tôn Nhân, Cơ Mật viện bàn nghĩ làm lễ mừng để ghi lại phúc đức vô cương của quốc gia (kế vì lễ tang nên dìm việc ấy đi) (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Tlđd, tr. 359).

7. Đại Nam thực lục ghi nhận sự kiện trọng đại nhà Nguyễn tái lập, ngày 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất - 1802, Nguyễn Ánh lập đàn tế cáo trời đất trên cánh đồng thuộc xã An Ninh ở Huế, chính thức lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2002, Đại Nam thực lục [bản dịch Viện Sử học], tập I, H.: Nxb. Giáo dục, tr. 491).

8. “Các nước văn minh rất coi trọng ngày kỷ niệm, ví dụ ngày lễ Cộng chánh của nước Đại Pháp là như thế. Trước đây các bề tôi bàn lấy ngày trẫm đăng quang làm ngày kỷ niệm, về tình thì giống như ổn thỏa nhưng về lý thì còn thiếu sót. Trẫm thường kính nhớ ngày 2 tháng 5 là ngày đầu tiên Thế tổ Cao hoàng đế vũ công đại định, nhận mệnh trung hưng, mà trải hết gian khổ hơn hai mươi năm, ngày kỷ niệm nên đổi dùng ngày ấy là hợp, sai sao ra cho các nơi biết để tuân hành”. Kế đến ngày ấy (ngày 2-5) vua đích thân suất lãnh các bề tôi tới Thế miếu làm lễ, lễ xong hồi loan, đặt triều nghi ở điện Cần Chánh, lại chuẩn trước đó dựng rạp trên bè nổi ở tả ngạn sông Hương (trước Phu Văn lâu), giăng hoa kết vải, treo cờ các màu. Đến chiều hôm ấy mời các vị đại hiến quý quan cùng thân công, đình thần trong đình Nghênh Lương nâng chén mừng và xem diễn kịch. Ngoài đình xe chen chật đường, thuyền bè trải dài ven sông, đến tối treo hàng vạn ngọn đèn, cùng ánh đèn điện hai bên bờ sông soi nhau, người xem cho là ngày Bất Dạ (ngày không có đêm) (Quốc sử quán triều Nguyễn, 2012, Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ [Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu], Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb. Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, mục 0317).

9. E. Le. Bris (1937), Le monument aux morts de Hué (Đài chiến sỹ trận vong ở Huế), B.A.V.H, N°4, pp.319-352. Bản dịch tiếng Việt của Hà Xuân Liêm, hiệu đính: Nguyên Anh, Nhị Xuyên, Huế: Nxb. Thuận Hóa, 2010, tr. 492-93, 534.

10. E. Le. Bris (1937), Le monument aux morts de Hué, Tlđd, tr. 505-506, 512, 514, 520, 532.

11. Jean Brunhes (1923), “Les routes nouvelles de l'Annam au Laos”, Annales de géographie, Volume 32, Issue 179, pp. 426-450.

12. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Tlđd, tr. 166, 232.

13. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên, Tlđd, tr. tr. 261 - 262, 353.

14.http://fr.wikipedia.org/wiki/Gustave_Eiffel

15. Trần Đức Anh Sơn, “Trường Tiền tạp lục”, Tạp chí Huế Xưa & Nay, (Huế: Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế), Số 12 - 1995.

16. Trần Đình Hằng (2013), Sự ra đời của Trường Quốc học Huế..., Tlđd.




Tạp chí liên quan

Tạp chí Văn hóa học

Năm phat hanh: 2015
Sách giấy: Liên hệ
Ebook: Liên hệ
Xem chi tiết

Bình luận